211 Đề Tài Viết Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Điểm Cao Năm 2021

211 Đề Tài Viết Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Điểm Cao Năm 2021

Xin chào các bạn sinh viên ngành Luật. Chắc hẳn có nhiều bạn vẫn còn băn khoăn chưa chọn được đề tài bài bào cáo thực tập ngành Luật đúng không? Hiện nay, nhà trường cũng có cung cấp cho các bạn danh sách đề tài, bạn có thể tham khảo tại đấy. Đề tài thì nhiều mà nhà trường gợi ý chỉ là một phần nào đó trong vô số đề tài, chính vì thế mà các bạn lên mạng tham khảo thêm. Nhận thấy điều đấy, nên Thủy đã dành thời gian để tổng hợp lại các đề tài dễ viết lại dễ đạt được điểm cao để chia sẻ đến các bạn sinh viên của chúng ta. Các bạn xem xong, nếu có gì thắc mắc còn chưa rõ thì có thể liên lạc với Thủy qua email: sotailieu@gmail.com hoặc số zalo: 0909 232 620

Luật Hiến pháp

  1. Thực trạng xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, vì nhân dân, do nhân dân theo quy định tại Điều 2 khoản 1 Hiến pháp VN năm 2013.
  2. Giải pháp bảo đảm “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” được quy định tại Điều 2 khoản 2 Hiến pháp VN năm 2013.
  3. Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng CSVN đối với nhà nước và xã hội theo quy định của Điều 4 – Hiến pháp VN năm 2013.
  4. Đổi mới cơ chế pháp luật/phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN VN theo tinh thần của Hiến pháp VN năm 2013.
  5. Đổi mới hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của QH theo quy định của Hiến pháp VN năm 2013, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN VN.
  6. Hoàn thiện pháp luật về đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo quy định của Hiến pháp VN năm 2013 đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XNCN VN.
  7. Hoàn thiện pháp luật về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND theo quy định của Hiến pháp VN năm 2013 đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN VN (sinh viên có thể chọn chính quyền cấp tỉnh, thành phố hoặc chính quyền huyện, thị xã hoặc chính quyền xã, phường, thị trấn).
  8. Hoàn thiện pháp luật về cải cách tư pháp theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN VN được quy định trong Hiến pháp VN năm 2013.
  9. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật để đảm bảo quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp VN năm 2013.
  10. Đổi mới kinh tế phải gắn với đổi mới chính trị và đổi mới văn hóa, giáo dục theo quy định của Hiến pháp VN năm 2013. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện.

Luật Hình sự

  1. Đặc điểm pháp lý chung của các tội xâm phạm an ninh quốc gia (có thể và liên hệ các vụ án ở địa phương).
  2. Điểm mới về các tội xâm phạm tính mạng con người của BLHS năm 2015 so với năm 1999 và 1985 (có thể liên hệ các vụ án ở địa phương).
  3. Phân biệt tội giết người và tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và liên hệ các vụ án ở địa phương.
  4. Phân biệt Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tội làm chết người trong khi thi hành công vụ và liên hệ các vụ án ở địa phương.
  5. Phân biệt tội hiếp dâm với tội cưỡng dâm và liên hệ các vụ án ở địa phương.
  6. Phân biệt tội giao cấu với trẻ em với tội dâm ô với trẻ em và liên hệ các vụ án ở địa phương
  7. Hãy phân tích khái niệm, đặc điểm của hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và liên hệ các vụ án ở địa phương.
  8. Phân biệt tôi cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản và liên hệ các vụ án ở địa phương.
  9. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ khác với Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ như thế nào? Liên hệ các vụ án ở địa phương
  10. Phân biệt tội dùng nhục hình với tội bức cung và liên hệ các vụ án ở địa phương

Ngoài chia sẻ bài viết: ” 211 Đề Tài Viết Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật, Điểm cao” thì mình cũng đã tổng hợp lại các đề tài gợi ý viết báo cáo thực tập của những ngành khác. Mọi người xem thêm tại đây: 

III. Luật Tố tụng hình sự

  1. Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.
  2. Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” trong các hoạt động khởi tố và điều tra vụ án hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.
  3. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS và liên hệ thực tiễn địa phương.
  4. Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS và liên hệ thực tiễn địa phương.
  5. Người bị bắt trong tố tụng hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.
  6. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.
  7. Người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.
  8. Người bị hại là pháp nhân trong tố tụng hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.
  9. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và liên hệ thực tiễn địa phương.
  10. Người làm chứng trong tố tụng hình sự và liên hệ thực tiễn địa phương.

Luật Dân sự – TTDS

  1. Thực trạng về người làm chứng lập di chúc tại phòng công chứng nơi thực tập.
  2. Thực trạng xác minh điều kiện thi hành án của người thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự nơi thực tập.
  3. Thực trạng việc công chứng hoặc chứng thực di chúc miệng tại cơ quan nơi thực tập.
  4. Thực trạng xác minh điều kiện thi hành án của người thi hành án tại văn phòng thừa phát lại nơi thực tập.
  5. Thực trạng lập vi bằng tại văn phòng thừa phát lại nơi thực tập.
  6. Thực trạng thi hành án dân sự của văn phòng thừa phát lại nơi thực tập.
  7. Thực trạng tống đạt các văn bản Tòa án của văn phòng thừa phát lại nơi thực tập.
  8. Thực trạng giải quyết án dân sự quá hạn tại Tòa án địa phương nơi thực tập.
  9. Thực trang thi hành án dân sự tại cơ quan thi hành án dân sự nơi thực tập.
  10. Thực trạng về những bản án, quyết định không thi hành được tại cơ quan thi hành án dân sự nơi thực tập.
  11. Thực trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự tại cơ quan công an nơi thực tập.
  12. Thực trạng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự của Viện kiểm sát địa phương nơi thực tập.
  13. Thực trạng chứng thực các giao dịch dân sự ở UBND xã nơi thực tập.
  14. Thực trạng công chứng các giao dịch dân sự ở phòng công chứng nơi thực tập.
  15. Thực trạng giải quyết tranh chấp (hòa giải) về thừa kế tại UBND nơi thực tập.
  16. Thực trạng giải quyết tranh chấp về thừa kế tại Tòa án địa phương nơi thực tập.
  17. Thực trạng tuyên bố người vắng mặt tại nơi cư trú, người mất tích, người chết tại Tòa án địa phương nơi thực tập.
  18. Nâng cao hiệu quả chứng thực di chúc ở UBND cấp xã nơi thực tập.
  19. Thực trạng giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng tại cơ quan nơi thực tập (UBND hoặc Tòa án) nơi thực tập.
  20. Thực trạng giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại theo hợp đồng tại cơ quan nơi thực tập (UBND hoặc Tòa án) nơi thực tập.
  21. Thực trạng giải quyết tranh chấp liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu tại cơ quan nơi nơi thực tập.
  22. Thực trạng về việc cưỡng chế thi hành án dân sự tại địa phương nơi thực tập.
  23. Thực trạng giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng trong các án kiện ly hôn ở địa phương thực tập.
  24. Thực trạng xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án dân sự tại Toà án địa phương.
  25. Thực trạng hoãn phiên toà Dân sự tại Toà án nơi thực tập.
  26. Thực trạng thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong các vụ án dân sự tại Toà án địa phương thực tập.
  27. Thực trạng thực hiện các hợp đồng giữ chỗ mua căn hộ tại sàn giao dịch bất động sản nơi thực tập.
  28. 30. Quy định về quyền chuyển đổi giới tính theo Bộ luật dân sự 2015 và những bất cập từ thực tiễn.
  29. Quyền thay đổi tên theo Bộ luật dân sự 2015 và những bất cập từ thực tiễn.
  30. Thủ tục đăng ký giám sát giám hộ, quy định và thực tiễn.

Luật Hành chính – Luật TTHC

  1. Hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của chính quyền địa phương. Thực trạng và giải pháp (sinh viên có thể chọn chính quyền cấp tỉnh, thành phố hoặc chính quyền huyện, thị xã hoặc chính quyền xã, phường, thị trấn).
  2. Thực trạng thủ tục hành chính nhà nước do chính quyền địa phương ban hành. Hiệu quả và giải pháp.
  3. Vấn đề cải cách bộ máy hành chính hiện nay theo yêu cầu của xây dựng nhà nước pháp quyền được quy định trong Hiến pháp VN 2013 (sinh viên có thể chọn chính quyền cấp tỉnh, thành phố hoặc chính quyền huyện, thị xã hoặc chính quyền xã, phường, thị trấn).
  4. Hiệu quả xét xử hành chính của Tòa án đối với các khiếu kiện quyết định hành chính; hành vi hành chính hiện nay. Thực trạng và giải pháp.
  5. Vấn đề hoàn thiện quy chế của quản lý hành chính của công dân theo quy định của Luật Hành chính VN hiện nay.
  6. Hiệu quả của công tác đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong bộ máy hành chính nhà nước. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống tham nhũng hiện nay.

Luật Công pháp quốc tế

  1. Hoàn thiện Luật Điều ước quốc tế để Luật ĐƯQT thực sự là tổng thể các nguyên tắc các quy phạm pháp luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ về ký kết và thực hiện ĐƯQT của các chủ thể Luật QT.
  2. Giải pháp và hoàn thiện pháp luật về quyền con người được quy định trong Luật Hiến pháp VN năm 2013 theo yêu cầu của Luật QT về quyền con người.
  3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý, hình thức phương thức giải quyết để các chủ thể Luật QT hợp tác, đấu tranh phòng, chống tội phạm quốc tế có hiệu quả.
  4. So sánh, phân tích để làm rõ sự khác biệt giữa Luật ĐƯQT với Luật quốc tế.
  5. Giải pháp hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Hiến chương Liên Hợp quốc.

VII. Tư pháp quốc tế

  1. Vị trí của Tư pháp quốc tế trong hệ thống pháp luật quốc gia?
  2. Vai trò của Tư pháp quốc tế trong quan hệ quốc tế Việt Nam hiện nay?
  3. Mối quan hệ giữa Tư pháp quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia?
  4. Vai trò của tập quán trong Tư pháp quốc tế Việt Nam?
  5. Vai trò của Điều ước quốc tế đối với Tư pháp quốc tế Việt Nam. Chứng minh bằng các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết.
  6. Vai trò của 02 phương pháp giải quyết xung đột trong Tư pháp quốc tế, liên hệ Tư pháp quốc tế Việt Nam.
  7. Thực tiễn vận dụng các hệ thuộc giải quyết xung đột pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam.
  8. Vai trò của Tư pháp quốc tế Việt Nam đối với quan hệ hợp đồng mua bán có yếu nước ngoài trong điều kiện hiện nay.
  9. Quy chế pháp lý về người nước ngoài trong Tư pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế Việt Nam.
  10. Quyền tài phán của Tòa án Việt Nam trong Tư pháp quốc tế.

VIII. Luật Hôn nhân và gia đình

  1. Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình, lý luận và thực tiễn.
  2. Hôn nhân trái pháp luật và biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật HN&GĐ.
  3. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong trường hợp cha mẹ ly hôn – thực trạng và giải pháp.
  4. Xác định tài sản của vợ chồng – một số vấn đề lý luận và thực tiễn.
  5. Thực trạng giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tòa án nơi anh chị thực tập.
  6. Thực trạng giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
  7. Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật và những bất cập từ thực tiễn.
  8. Tình hình đăng ký kết hôn tại địa phương.
  9. Thực trạng ly hôn và kiến nghị đề xuất các giải pháp hạn chế tình trạng ly hôn ở giới trẻ tại…. (sinh viên chọn huyện).

Luật Lao động

  1. Tranh chấp lao động cá nhân – thực trạng và giải pháp.
  2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động tập thể, thực trạng và giải pháp.
  3. Trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động theo pháp luật Việt Nam.
  4. Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực bảo vệ người lao động.
  5. Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc xử lý kỷ luật lao động và thực tiễn áp dụng.
  6. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và thực tiễn áp dụng.
  7. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động và thực tiễn áp dụng.

Luật Đất đai

  1. Thực trạng công tác hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương theo Luật Đất đai 2013.
  2. Những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất.
  3. Về tổ chức bộ máy cơ quan quản lý đất đai ở địa phương theo quy định của pháp luật hiện hành.
  4. Quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, thực trạng và giải pháp.
  5. Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính về đất đai tại địa phương/nơi làm việc.
  6. Thực trạng quản lý và sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa tại địa phương.

Luật Thương mại

  1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành/ lưu trú tại địa phương nơi anh/chị thực tập
  2. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện Kinh doanh dịch vụ quản lý, vận hành nhà chung cưtại địa phương nơi anh/chị thực tập
  3. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện quy định pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương mại tại đơn vị thực tập.
  4. Thự tiễn thực hiện quy định pháp luật về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong thương mại
  5. Thự tiễn thực hiện quy định pháp luật về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong thương mại
  6. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp tại Doanh nghiệp nơi thực tập
  7. Thực trạng cấp phép và xử lí vi phạm pháp luật đối với quảng cáo ngoài trời tại địa phương nơi anh/chị thực tập.
  8. Thực tiễn quản lý (thực hiện quy định pháp luật về) hoạt động của các doanh nghiệp logistics tại địa phương.
  9. Thực tiễn hoạt động tư vấn giải quyết tranh chấp thương mại tại công ty luật hoặc văn phòng luật sư nơi thực tập
  10. Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của công ty Trách nhiệm hữu hạn (cổ phần). Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luật Cạnh tranh

  1. Thực tiễn kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch tại địa phương
  2. Thực tiễn kiểm soát hành vi thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ
  3. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về hành vi thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ trực tiếp hoặc gián tiếp tại địa phương
  4. Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường/vị trí độc quyền tại địa phương
  5. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về hành vi ép buộc trong kinh doanh tại địa phương
  6. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác tại địa phương

XII. Luật Sở hữu trí tuệ

  1. Vi phạm quyền tác giả đối với chương trình máy tính – Lý luận và thực tiễn
  2. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về nhãn hiệu tại địa phương
  3. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về kiểu dáng công nghiệp tại địa phương
  4. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại địa phương.

Khoa xây dựng bộ đề báo cáo thực tập trên cơ sở của 12 môn luật cơ bản, quan trọng để sinh viên lựa chọn một đề đăng ký với khoa. Sau khi sinh viên đăng ký, khoa sẽ phân công giảng viên hướng dẫn. Sau khi thực tập, sinh viên dựa trên bản báo cáo để trình bày trước Hội đồng khoa học khoa.

Những điều cần lưu ý khi viết báo cáo thực tập:

  1. Sinh viên chọn một đề tài để viết báo cáo thực tập.
  2. Sinh viên có thể đưa ra một đề tài tương ứng được bộ môn, trưởng khoa đồng ý để làm báo cáo thực tập.
  3. Nhiều sinh viên chọn một đề tài, trưởng khoa, bộ môn sẽ điều chỉnh sang đề tài khác tương ứng.
  4. Sinh viên chỉ viết báo cáo thực tập khi khoa, bộ môn nhận được đăng ký và có thông báo chính thức của Phòng đào tạo. Khoa phân công giáo viên hướng dẫn.
  5. Báo cáo thực tập là cơ sở để sinh viên báo cáo trước Hội đồng khoa học của khoa. Kết quả báo cáo là một trong những cơ sở để nhà trường ra quyết định tốt nghiệp đại học luật.

Trên đây là tổng hợp: “211 Đề Tài Viết Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Điểm Cao, 2021” mình chia sẻ đến các bạn sinh viên đang học ngành Luật trên cả nước tham khảo, nếu bạn nào có nhu cầu cần triển khai một trong những đề tài trên hoặc có nhu cần cần dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập thì có thể liên hệ với mình qua sđt zalo: 0909 232 620

Lý Luận Chung Về Cơ Chế Pháp Lý Bảo Hộ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1.1. Lý luận chung về cơ chế pháp lí bảo hộ công dân

1.1.1. Khái niệm về cơ chế pháp lý bảo hộ công dân

  • 1.1.1.1. Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài

Trên cơ sở nghiên cứu thì có nhiều khái niệm về người Việt Nam ở nước ngoài thường được quy định một cách thống nhất. Về cơ bản thì người Việt Nam ở nước ngoài thường được hiểu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Việc người Việt định cư ra nước ngoài đã có từ rất lâu, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, định cư ở nhiều quốc gia, khu vực. Hiện nay, số lượng người Việt định cư ở nước ngoài ngày càng nhiều và tạo nên các cộng đồng người Việt ở nước ngoài rất đa dạng và phức tạp.

Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được hiểu tương đối thông nhất. Điều 3 khoản 3 Nghị định Số:138/2006/NĐ-CP quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Khái niệm này được khẳng định lại tại Điều 3 khoản 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Như vậy, theo khái niệm trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 2 loại là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

– Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam (Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013).

– Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (Điều 3 khoản 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008).

  • 1.1.1.2. Khái niệm bảo hộ công dân theo pháp luật quốc tế

ặt ra khi cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia sở tại có hành vi trái pháp luật quốc tế, qua đó gây phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình ở nước ngoài. Quốc gia mà người đó là công dân có trách nhiệm tiến hành các biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân mình. Đồng thời, trách nhiệm BHCD còn bao gồm các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới công dân của nước này. Trong trường hợp này, sự bảo hộ bao gồm những hoạt động mang tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính cho công dân; các hoạt động có tính chất trợ giúp như giúp đỡ về tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, giúp đỡ công dân trong việc chuyển thông tin, bảo quản giấy tờ, tài sản…; hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam, áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân nước mình trên cơ sở phù hợp quy định pháp luật quốc gia sở tại hoặc luật pháp quốc tế[1].

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 được kí kết trong Hội nghị Liên hợp quốc về Tổ chức Quốc tế tại San Fransisco (Mỹ) ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945, sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập (Trung Hoa, Liên Bang Xô Viết, Pháp, Anh, Hoa Kỳ) và phần đông các nước khác mặc dù vấn đề bảo hộ công dân không được nêu trực tiếp trong Hiến chương, nhưng thông qua những điều khoản của Hiến chương này mà các nguyên tắc bảo hộ công dân được thể hiện. Những quy định kể trên là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống văn kiện quốc tế về các vấn đề có liên quan đến bảo hộ công dân. Dựa trên tinh thần và nguyên tắc của bản hiến chương này, các công ước quốc tế ra đời tạo cơ sở pháp lí cho quốc gia bảo hộ quyền và lợi ích của công dân mình trên toàn thế giới. Trong đó, hai công ước cơ bản nhất là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự.

Đối với Công ước Viên về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18/4/1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về Quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao. Bắt đầu có hiệu lực ngày 24/4/1964 là công ước quan trọng nhất được các quốc gia sử dụng trong lĩnh ngoại giao của mình. Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao được quy định cụ thể tại điều 3 Công ước Viên về quan hệ ngoại giao 1961. Theo đó, cơ quan đại diện ngoại giao đại diện cho nước cử đi tại nước tiếp nhận; Bảo vệ quyền lợi của nước cử đi và của công dân nước cử đi tại nước tiếp nhận trong phạm vi cho phép của luật quốc tế…như vậy, một trong những chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao là bảo vệ quyền lợi của công dân nước mình. Công ước không quy định cụ thể biện pháp mà cơ quan đại diện ngoại giao phải thực hiện để bảo hộ công dân. Theo thông lệ thì cơ quan này có thể tiến hành bảo hộ công dân nước mình bằng nhiều biện pháp nhưng phải phù hợp với pháp luật nước cử, pháp luật nước nhận cũng như pháp luật quốc tế. Cơ quan đại diện có thể giúp đỡ công dân mình khi họ gặp khó khăn, đại diện cho công dân tham gia vào quá trình tố tụng… Và đây cũng là nền tảng cơ bản để cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thực hiện các hoạt động BHCD trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ được giao trong thực tế.

Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao (1961), các cơ quan đại diện ngoại giao một nước trên lãnh thổ của nước sở tại có thẩm quyền “bảo vệ lợi ích quốc gia và của công dân mình trong giới hạn của luật pháp quốc tế” nói chung.[2]

Từ những phân tích trên, một cách chung nhất, có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm BHCD theo pháp luật quốc tế như sau: BHCD theo pháp luật quốc tế là trách nhiệm chính trị – pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tiến hành bảo vệ khi có sự đe doạ, cản trở hoặc xâm hại đến các quyền và lợi ích đó. Như vậy, hoạt động bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính chất công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ dự định tới… vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính chất phức tạp hơn như hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền lợi và lợi ích tối thiểu theo quy định của nước sở tại hoặc luật quốc tế.

  • 1.1.1.3. Khái niệm bảo hộ công dân theo pháp luật Việt Nam

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấn đề trọng tâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Có thể nói một trong những vấn quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Nhà nước luôn có cơ chế luôn đảm bảo cho công dân được những lợi ích và các quyền công dân và ngược lại công dân phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà pháp luật quy định. Việc thiết lập các cơ chế để thúc đẩy và hoàn thiện mối quan hệ này cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về cơ chế pháp lí cũng như thực tiễn cuộc sống. Một những quyền mà mọi công dân quan tâm nhất hiện nay là quyền được bảo hộ khi đang ở nước ngoài, đây là trách nhiệm của quốc gia đối với công dân của mình. Theo quy định của Hiến pháp 2013 thì việc bảo hộ công dân là một trong những chức năng của nhà nước nhằm bảo hộ các công dân mang quốc tịch của mình, đồng thời đây cũng là một trong các quyền rất cơ bản và quan trọng của mỗi công dân trong và ngoài lãnh thổ của quốc gia mà mình mang quốc tịch. Đồng thời, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng nhấn mạnh: Việc bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài là hết sức cần thiết, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, góp phần nâng cao vị thế chính trị, uy tín của Nhà nước Việt Nam đối với thế giới cũng như trong con mắt người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần khuyến khích, động viên ngày càng nhiều hơn sự đóng góp của bà con Việt kiều vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thuật ngữ “bảo hộ” (dưới góc độ là một chức năng của Nhà nước) đã được sử dụng từ rất lâu, nhưng không theo cách hiểu hiện đại, mà theo cách hiểu về một trạng thái do Nhà nước đô hộ áp đặt cho quốc gia bị đô hộ. Nghĩa “che chở, giúp đỡ, chăm lo” ở đây chỉ thuần túy mang cái nhìn bề trên từ phía Nhà nước.

Về mặt ngữ nghĩa, “bảo hộ” là thuật ngữ có gốc từ Hán Việt. “Bảo” nghĩa là giữ gìn, “hộ” nghĩa là che chở. Như vậy, “bảo hộ” nghĩa là giữ gìn, che chở. Theo Từ điển Tiếng Việt: Bảo hộ là “che chở, không để bị tổn thất[3]. Bảo hộ theo nghĩa như vậy được sử dụng trong nhiều tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Trong pháp luật quốc tế thì bảo hộ công dân

Theo nghĩa rộng, BHCD là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài mà còn bao gồm hoạt động giúp đỡ về mọi mặt..

Theo nghĩa hẹp, BHCD được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài khi những quyền và lợi ích này bị xâm hại.. Như vậy, BHCD theo nghĩa hẹp chỉ diễn ra khi sự xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình. Với cách tiếp cận như vậy, BHCD theo nghĩa hẹp có nội dung khá gần gũi với khái niệm bảo vệ quyền trong quan niệm hiện hành. Tuy nhiên, BHCD dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng đều là trách nhiệm chính trị – pháp lý, mà trước hết là trách nhiệm chính trị, xuất phát từ yêu cầu về tính chính đáng của nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân được thực hiện các quyền một cách tốt nhất. Nhà nước phải có trách nhiệm với công dân, ngay cả trong các trường hợp nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của mình, hoặc khi pháp luật chưa đầy đủ hoặc thiếu vắng nhưng vì các nguyên tắc nhân đạo, công bằng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, mà vẫn phải thực hiện trách nhiệm. Đây là mối quan hệ giữa nhà nước và công dân của một quốc gia cụ thể, liên quan đến khía cạnh các quyền cơ bản của công dân.

1.1.2. Vai trò,mục đích, ý nghĩa của cơ chế pháp lí bảo hộ công dân ở nước ngoài

  • 1.1.2.1. Vai trò đối với cá nhân, pháp nhân và Nhà nước

Trên cơ sở những tri thức chung về quy định bảo hộ  công dân thấy vai trò của pháp luật trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thể hiện ở những điểm căn bản sau đây:

Một là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện cụ thể hóa một cách chính thống phần lớn các quyền, tự do của công dân, con người vốn được ghi nhận trong Hiến pháp, trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội. Nhiều quyền cơ bản của công dân chỉ có thể được bảo đảm, bảo vệ khi được cụ thể hóa thành các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài, nhờ có các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài mà các quy phạm hiến pháp về quyền con người, quyền công dân được thực hiện trên thực tế. Như vậy, các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để đưa các quy phạm hiến pháp về quyền con người, quyền công dân đi vào đời sống xã hội, nói cách khác nhờ có quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài mà nhiều quy phạm Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân được thực hiện trên thực tế.

Hai là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để giới hạn quyền lực của hệ thống quản lý hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức của công dân. Đồng thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài xác định giới hạn quyền lực hành chính công với công dân, đảm bảo mọi công dân Việt Nam ở nước ngoài đều được bảo vệ  và pháp luật nói chung hay cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài nói riêng cần phải tạo ra giới hạn sự can thiệp của nhà nước trong hoạt động BHCD trong thực tế. Thông qua đó mà cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài đã bảo đảm, bảo vệ quyền của con người, quyền công dân đối với các công dân Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn hiện nay.

Ba là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để công dân có thể kiểm soát được các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thông qua hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thì người dân phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình để từ đó các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài để các cơ quan thay mặt nhà nước thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo quyền công dân trong trường hợp bị xâm phạm.

Bốn là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện pháp lý, bằng các phương thức, cách thức, biện pháp khác nhau để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm hại trong hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội. Trong thực tiễn đời sống nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm hại từ phía công quyền, hay từ các chủ thể khác, được bảo vệ, khôi phục trước hết bởi bộ máy hành chính, dựa trên cơ sở các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài và các loại quy phạm pháp luật khác mà cơ quan hành chính nhà nước có thể sử dụng, áp dụng. Có thể nói không một trường hợp vi phạm pháp luật nào xâm phạm tới quyền của con người, của công dân mà trước hết lại không được bảo vệ bởi hệ thống hành chính nhà nước. Đây là một thực tiễn trong đời sống nhà nước và xã hội cần được nhận thức và thừa nhận. Từ đó mà có nhận thức đầy đủ và khách quan về vai trò của bộ máy hành chính, của cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài

  • 1.1.2.2. Mục đích bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Mục tiêu cao nhất trong công tác bảo hộ công dân là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam. Chính phủ không “bảo hộ” cho những hành động sai trái, vi phạm pháp luật nước sở tại.

Công dân Việt ra nước ngoài cần phải trang bị kiến thức và chấp hành nghiêm túc luật pháp, đặc biệt là luật pháp nước bạn, trước hết để tự bảo vệ bản thân mình khỏi những rắc rối. Nhưng vẫn rất cần “tấm đệm” bảo hộ công dân để quyền lợi những người Việt gặp bất trắc được tôn trọng, không bị xâm phạm như một số trường hợp đã diễn ra trong thực tế.

  • 1.1.2.3. Ý nghĩa của bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Bảo hộ công dân trong nhiều thập niên chỉ được hiểu rất hẹp là việc bảo hộ ở nước ngoài bằng con đường ngoại giao và lãnh sự.

Một là, thiết lập nền tảng pháp lý để bảo hộ quyền công dân một cách hữu hiệu, qua đó, thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tích cực giữa Nhà nước và công dân Ý nghĩa cơ bản và quan trọng của BHCD Việt Nam ở nước ngoài đó là khi không còn biện pháp, trình tự, thủ tục pháp lý thông thường thì sẽ cung cấp một nền tảng pháp lý để BHCD trong những hoàn cảnh, trường hợp cụ thể. Đồng thời, nền tảng pháp lý này chính là ranh giới cuối cùng, định biên giữa khả năng tác động, can thiệp của Nhà nước với quyền tự chủ (tự do, độc lập) của công dân. Do việc bảo hộ xuất phát từ quyền con người, tính chính đáng của Nhà nước, nên mục tiêu của BHCDVN ở nước ngoài là nhằm phát huy tính tích cực của người dân, cung cấp cho người dân những phương tiện hữu hiệu để có thể chủ động tự bảo vệ quyền của mình. Vì vậy, đây là cơ chế tốt nhất để kết nối được tất cả hình thức phản kháng của người dân (tố quyền) trong phạm vi quốc tế và khu vực.

Đồng thời, cơ chế này cũng giúp Nhà nước ý thức đầy đủ hơn trách nhiệm chính trị của mình trong mối quan hệ với công dân, có thái độ tích cực trong thực thi việcbảo đảm, bảo vệ quyền công dân. Căn cứ để yêu cầu Nhà nước phải thực thi trách nhiệm của mình trong quá trình BHCD một cách toàn diện và chủ động chính là vì đối tượng của bảo hộ là các quyền hiến định của công dân. Về nguyên tắc, các quyền hiến định phải được thừa nhận, bảo đảm, bảo vệ một cách trực tiếp và đương nhiên mà không cần thông qua một thủ tục trung gian nào. Không thể vin vào lí do chưa có luật cụ thể để từ chối khả năng thực thi cũng như việc bảo vệ quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những quyền không thể thực hiện nếu không có những quy định cụ thể, hướng dẫn thủ tục thực thi. Với ý nghĩa đó, việc thiết lập những nền tảng pháp lý chặt chẽ cho vấn đề này là rất cần thiết.

Hai là, đặt cơ chế bảo hộ công dân trong chỉnh thể thống nhất với các cơ chế bảo đảm và bảo vệ công dân, giúp hoàn thiện các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền công dân, quyền con người Có thể thấy, cơ chế BHCD có phạm vi rất rộng, nhưng mục tiêu cơ bản là hướng đến con người, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho con người, do đó, cũng không nằm ngoài tinh thần chung của hệ thống các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Mặt khác, vấn đề BHCD có những đặc trưng riêng, giúp bổ sung, hoàn thiện các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thông qua BHCD, việc bảo hộ đặc biệt phát huy tác dụng trong những tình huống, điều kiện hoàn cảnh cụ thể, khẩn cấp, khi các thủ tục, trình tự pháp lý thông thường không thể đáp ứng hoặc khi các biện pháp bảo đảm, bảo vệ không thể phát huy tác dụng.

Ba là làm rõ hơn nhận thức về các quyền cơ bản của công dân Dựa trên cơ sở làm rõ sự khác biệt giữa các quyền cơ bản với các quyền thông thường (không được quy định trong Hiến pháp), BHCD giúp phân định các phương thức thực hiện quyền: trực tiếp hay gián tiếp (thông qua trình tự, thủ tục luật định), làm rõ quyền nào được thực hiện trực tiếp, quyền nào phải thông qua các văn bản pháp luật hay dưới luật, tập quán (ví dụ như trong quyền sở hữu có những trường hợp phải áp dụng tập quán). Một điểm cần lưu ý trong nhận thức về các quyền cơ bản, đó là các quyền này phải được thực hiện độc lập, không nằm trong điều kiện ràng buộc với các nghĩa vụ cơ bản của công dân.

1.1.3. Điều kiện để được bảo hộ

Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài nói chung và của người lao động Việt Nam ở nước ngoài nói riêng là một trong những mục tiêu hàng đầu của công tác quản lý di cư.

  • 1.1.3.1. Điều kiện là công dân Việt Nam

Đối tượng bảo hộ là công dân của quốc gia tiến hành bảo hộ. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được xác lập trên cơ sở nguyên tắc huyết thống, nguyên tắc lãnh thổ, hoặc trên cơ sở cho nhập quốc tịch Việt Nam theo luật định. Công dân Việt Nam được hưởng quyền và gánh vác trách nhiệm công dân đối với nhà nước. Quyền và nghĩa vụ công dân Việt Nam được quy định trong hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác. Ðiều 49 Hiến pháp 2013 quy định: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam làm việc, học tập, công tác và định cư ở nước ngoài được nhà nước Việt Nam bảo hộ.

  • 1.1.3.2. Người có hai quốc tịch nhưng dùng hộ chiếu Việt Nam đến nước thứ ba

Hiện nay, trong thực tiễn ghi nhận trường hợp có hai quốc tịch. Trên thực tế thì theo quy định tại

Điều 21 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có quy định về trách nhiệm thông báo có quốc tịch nước ngoài của công dân Việt Nam như sau:

“1. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009, công dân Việt Nam vì lý do nào đó mà có quốc tịch nước ngoài và chưa mất quốc tịch Việt Nam, thì vẫn có quốc tịch Việt Nam.

  1. Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày có quốc tịch nước ngoài, người quy định tại khoản 1 Điều này hoặc cha mẹ, người giám hộ của người đó, nếu ở ngoài nước phải thông báo cho Cơ quan đại diện Việt Nam có thẩm quyền theo quy định tại Điều 19 của Nghị định này; nếu ở trong nước phải thông báo cho Sở Tư pháp nơi người đó cư trú việc họ có quốc tịch nước ngoài, kèm theo bản sao giấy tờ chứng minh có quốc tịch nước ngoài.
  2. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Sở Tư pháp có trách nhiệm ghi vào Sổ quốc tịch khi công dân Việt Nam thông báo có quốc tịch nước ngoài”.

Trước tiên, lợi ích của người song tịch hai quốc tịch là được hưởng tất cả các ưu đãi, quyền lợi về kinh tế, chính trị, phúc lợi xã hội của cả hai quốc gia mà họ là công dân. Cụ thể là họ sẽ được sống, làm việc, được học tập, được chăm sóc sức khỏe, được đứng tên và sở hữu công ty, được sở hữu và mua bán bất động sản, được bão lãnh người thân, được quyền ứng cử, bầu cử…Đặc biệt, những người song tịch hai quốc tịch sẽ thuận tiện hơn trong việc việc xuất – nhập cảnh bởi họ không cần xin visa hoặc thẻ thường trú nhân vào nước mà họ đang giữ quốc tịch. Trường hợp công dân có hai quốc tịch và sử dụng quốc tịch Việt Nam khi nhập cảnh nước thứ ba thì công dân đó vẫn mang quốc tịch Việt Nam và sẽ được áp dụng các biện pháp BHCD trong trường hợp cần thiết. Trong trường hợp này, việc thực hiện các quy định về BHCD đối với trường hợp trên sẽ đảm bảo cho quá trình áp dụng trong thực tiễn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay đối với vấn đề BHCD của từng quốc gia nói riêng và theo pháp luật thế giới nói chung.

  • 1.1.3.3. Công dân được hưởng quy chế tị nạn

Người tị nạn là người vì lí do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, hoặc thảm họa tự nhiên, xung đột vũ trang… ở ngoài đất nước mà mình có quốc tịch và không thể hoặc không muốn nhận sự bảo hộ của quốc gia mang quốc tịch. Sự gia tăng nhanh chóng của làn sóng người tị nạn là một trong các yếu tố gây mất ổn định trên toàn cầu cũng như trong mỗi khu vực. Dòng người tị nạn hiện nay rất khác với dòng người tị nạn thời kì sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Lí do tị nạn cũng rất đa dạng, phức tạp. Vì vậy, việc phân biệt rõ người tị nạn và di dân kinh tế là khó khăn. Tuy nhiên, người tị nạn bất luận vì lí do gì vẫn có quyền hưởng những quyền con người tối thiểu nhất và những chuẩn mực đối xử sơ đẳng nhất.

Vấn đề người tị nạn được đề cập trong một số văn bản pháp lí quốc tế quan trọng như Công ước về vị thế người tj nạn năm 1951, Nghị định thư bổ sung về vị thế người tị nạn năm 1967…

[1] Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.

[2] Điều 3(1)(b) Công ước Viên 1961

[3]  Từ điển tiếng Việt (2010) Nhà xuất bản Bách khoa Đà Nẵng

Xem thêm: Xây Dựng Kế Hoạch Kinh Doanh Quán COFFEE Bánh Ngọt Tới Năm 2023

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Công tác cấp giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP:CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

1. Tính cấp thiết của đề tài báo cáo thực tập:

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Đó là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Mỗi quốc gia, mỗi địa phương có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi diện  tích, ranh giới, vị trí…Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những văn bản pháp lý có liên quan. Luật đất đai năm 2013 ra đời đã xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước thống nhất quản lý.  Hiện nay vấn đề về đất đai là vấn đề được nhiều người quan tâm, tranh chấp, khiếu nại, lấn chiếm đất đai thường xuyên xảy ra và việc giải quyết vấn đề này cực kỳ nan giải do thiếu giấy tờ pháp lý. Thực tế trong thị trường này thị trường ngầm phát triển rất mạnh mẽ. Đó là vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay. Để đảm bảo cho thị trường này hoạt động công khai, minh bạch thì yêu cầu công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận phải được tiến hành. Ngoài ra một vấn đề quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giúp cho nhà nước có cơ sở pháp lý trong việc thu tiền sử dụng đất, tăng nguồn ngân sách cho nhà nước. Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận mặc dù đã được các ngành các cấp quan tâm nhưng kết quả còn nhiều hạn chế. Việc tìm hiểu và đánh giá tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận giúp UBND tỉnh với tư cách đại diện nhà nước sở hữu về đất đai có những biện pháp đẩy nhanh công tác này. Do những yêu cầu cấp thiết như vậy nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài: Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận” làm đề tài báo cáo thực tập.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài báo cáo thực tập:

2.1. Mục đích

Đề tài tập trung khảo sát thực trạng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận. Từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.

2.2. Nhiệm vụ

–  Làm rõ cơ sở lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Khảo sát thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận từ khi luật đất đai mới có hiệu lực (2014 – 2019)

– Đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời gian tới.

3. Đối tương, phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.

– Phạm vi thời gian: Từ ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực.

– Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở), quyền sở hữu nhà ở.

4. Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng các phương pháp xử lý số liệu chủ yếu như: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử, phương pháp đọc tài liệu; phương pháp sơ đồ hóa số liệu.

Xem thêm: 

5. Bố cục của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
  • Chương 2: Thực trạng của công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận
  • Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀM THUẬN BẮC

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài:CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀM THUẬN BẮC các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Hoàn Thiện Cơ Chế Pháp Lý Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP  ĐẤT ĐAI

Đất đai là tài nguyên đặc biệt. Trong nền kinh tế thị trường, người ta coi đất đai là hàng hoá đặc biệt. Câu nói “tấc đất, tấc vàng” nói lên sự quý giá ở tầm mức cao nhất của đất đai thực ra cũng không đủ. Nếu nói dưới góc độ giá trị lịch sử – xã hội : “mỗi tấc đất đều nhuốm máu cha ông”; đất đai là “giang sơn gấm vóc” thì sự thiêng liêng, quý giá ấy khó lấy thước đo nào mà định giá.

Trong quá trình vận động của xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề bức xúc xảy ra hàng ngày. Trong đó đứng đầu là vấn đề tranh chấp đất đai. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là  người dân không có thói quen cắm cột mốc, quá trình sử dụng bị sai lệch hoặc chuyển nhượng, tặng cho không làm đầy đủ các thủ tục cần thiết, hợp lệ.

Hệ thống hồ sơ địa chính, đặc biệt là bản đồ địa chính chính quy chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thống nhất, độ chính xác và tin cậy không cao nên gây ra những khó khăn rất lớn cho các cấp chính quyền địa phương trong thực thi thẩm quyền quản lý theo quy định của pháp luật, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Nhiều vấn đề lịch sử để lại chưa được giải quyết dứt điểm và kịp thời như việc xác định nguồn gốc, mốc giới, thời hạn, mục đích, quy chủ sử dụng đất đã nảy sinh nhiều bức xúc. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các cơ quan chức năng gặp không ít khó khăn khi tìm chứng cứ để xác định tính khách quan của vụ việc, thậm chí có nhiều trường hợp phải suy đoán theo lập luận của các bên. Từ đó, xảy ra nhiều tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài, thưa gửi nhiều nơi và qua nhiều cấp giải quyết mà các bên vẫn khiếu nại.

Giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai. Thực hiện tốt nội dung này không những góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, mà còn góp phần đáng kể trong việc giữ gìn ổn định sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, hàn gắn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự và ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng có thể xảy ra, đảm bảo trật tự xã hội cũng như củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong những năm qua, công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại trên lĩnh vực đất đai đã có nhiều chuyển biến tích cực, giải quyết được một khối lượng lớn vụ việc, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội. Tuy nhiên, tình hình tranh chấp, khiếu nại có liên quan đến đất đai hiện nay vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đây là một vấn đề nhức nhối đang được Đảng và Nhà nước, xã hội rất quan tâm.

Việc nhận thức và vận dụng pháp luật không đúng, không thống nhất, thậm chí sai phạm dẫn đến khiếu nại, tố cáo nhiều, công tác quản lý nhà nước các cấp phải tập trung quá nhiều lực lượng, kinh phí để giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, gây tốn kém, mất thời gian. Có sự việc nhỏ chỉ cần giải quyết ở cấp cơ sở là xong, nhưng thực tế việc hiểu biết và vận dụng pháp luật của một số cán bộ còn chưa đúng, chưa phù hợp đã làm cho sự việc phức tạp thêm, kéo dài thời gian, tạo ra nhiều dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân.

Với nhận thức tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp về đất đai trong quản lý nhà nước về đất đai, niên luận đi vào đề tài: “ hoàn thiện cơ chế pháp lý về giải quyết tranh chấp  đất đai “.

Vì thời gian và kiến thức còn hạn chế, niên luận không tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót. Rất mong được sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo và các học viên. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp tận tình đó, tạo điều kiện cho tôi nhận thức được đầy đủ hơn và hoàn thành tốt niên luận này.

  1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài báo cáo thực tập:

Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, nhất là ở những vùng  đô thị hóa . Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến trong thực tế là: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hôn… Có thể liệt kê rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai như: Việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở; việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tiến hành chậm; việc lấn chiếm đất đai diễn ra ngày càng phổ biến nhưng không được ngăn chặn và xử lý kịp thời; đất đai từ chỗ chưa được thừa nhận có giá trị nay trở thành tài sản có giá trị cao, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc giá đất tăng đột biến…

Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm ổn định tình hình chính trị, xã hội. Hệ thống các văn bản pháp luật đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, trong đó quy định việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân (UBND) và Tòa án nhân dân (TAND) (các Điều 21, 22 Luật Đất đai năm 1987; Điều 38 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 136 Luật Đất đai năm 2003). Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai mới chỉ “dừng lại” ở mức độ chung chung, nên trên thực tế dẫn đến sự chồng chéo, đùn đẩy giữa UBND và TAND. Khắc phục những nhược điểm này, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tương đối cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết các tranh chấp đất đai có hiệu quả hơn.

Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay đổi tương
thích với từng giai đoạn phát triển của cách mạng, song bên cạnh đó còn nhiều quy định không nhất quán. Hơn nữa, việc giải thích, hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa đầy đủ và kịp thời. Do đó, tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính và TAND trong những năm qua vừa chậm trễ, vừa không thống nhất. Có nhiều vụ phải xử đi, xử lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, phát sinh khiếu kiện kéo dài và làm giảm lòng tin của người dân đối với đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có thể khẳng định rằng, việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là loại việc khó khăn, phức tạp nhất và là khâu yếu nhất trong công tác giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung. Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; thực trạng tranh chấp đất đai và việc giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan có thẩm quyền  trong những năm gần đây, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai và xác lập cơ chế giải quyết các tranh chấp đất đai thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề ” hoàn thiện cơ chế pháp lý về Giải quyết tranh chấp đất đai” ở thị xã Tân Uyên-Bình Dương làm đề tài  niên luận môn luật học của mình.

  1. Mục đích và nghĩa vụ nghiên cứu

– Mục đích nghiên cứu của tiểu luận là phân tích, đánh giá thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết có hiệu quả hơn các tranh chấp đất đai.

– Để đạt được mục đích này, tiểu luận có nhiệm vụ nghiên cứu những quy định của pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai ở thị xã Tân Uyên. Trên cơ sở đó chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai, phúc đáp các đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

  1. Phương pháp nghiên cứu

– Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết niên luận  sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, trao đổi chuyên gia.

  1. Ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng ở nước ta.

  1. Kết cấu của đề tài báo cáo thực tập:

Ngoài các phần Mở đầu và phần kết  niên luận có 2 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
  • Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.

Mục lục                                                                                                                         Trang

Xem thêm: KẾ HOẠCH THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH KÊ TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU

PHẦN MỞ ĐẦU                                                                                                             01

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất

đai                                                                                                                                     09

1.1 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai                                   09

  •             1.1.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai                                            09
  •             1.1.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai                                              09

1.2. Vai trò giải quyết tranh chấp đất đai                                                          09

1.3. Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai                               10

Chương 2: Thực trạng  giải quyết tranh chấp đất đai tại thi xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyếttranh chấp đất đai.                                     13

2.1. Vị trí địa lý                                                                                                        13

  •             2.1.1. Thực trạng giải quyết tranh chấp  đất đai  tại  địa phương thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương.                                                                              13
  •             2.1.2. Kết quả đạt được                                                                                     15
  •             2.1.3. Những hạn chế                                                                                         15
  •             2.1.4. Nguyên Nhân                                                                                           17

2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai                                                                                                                    19

  •             2.2. 1. Sự cần thiết phải điều chỉnh các tranh chấp đất đai bằng pháp luật                                                                                                                          19
  •             2.2.2 Giải pháp                                                                                                   26

PHẦN KẾT                                                                                                                     27

Danh mục tài liệu tham khảo                                                                                      28

 Cách làm bài báo cáo thực tập:  HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Hoàn thiện cơ chế pháp lý về giải quyết tranh chấp đất đai các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Nghiên Cứu Quy Định Pháp Luật Việt Nam Về Đăng Ký Kết Hôn

 Đề tài báo cáo thực tập: NGHIÊN CỨU QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN 

  1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu:

Gia đình luôn là cái nôi hình thành và nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người. Những gia đình tốt đẹp sẽ xây dựng được một xã hội tiến bộ văn minh, một xã hội tiến bộ văn minh là cơ sở để xây dựng một gia đình tốt đẹp. Để xây dựng được một gia đình tốt đẹp trước tiên chúng ta phải hiểu gia đình là gì? Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của họ với nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Khởi nguồn của quan hệ gia đình đó chính là quan hệ hôn nhân, là việc kết hôn giữa người nam và người nữ theo những điều kiện mà pháp luật quy định. Như vậy, chúng ta thấy một cuộc hôn nhân tốt đẹp sẽ là nền tảng để xây dựng một gia đình và một xã hội tốt đẹp.

Bên cạnh những truyền thống tốt đẹp, trong quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại được tôn trọng và phát huy. Thì mặt trái của xã hội đã tạo nên một thực trạng đáng lo ngại đó là vấn đề nam nữ sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn ngày càng được phổ biến. hiện tượng này phát sinh và tồn tại chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố như là ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, của lối sống phương tây, của trình độ dân trí và ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân.

Trên thực tế việc “Kết hôn” không đăng ký này sẽ làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp sau một thời gian chung sống như khi có con chung, có tài sản chung thì giữa họ nảy sinh mâu thuẫn và xảy ra tranh chấp, hay tranh chấp khi một bên lại đăng ký kết hôn với người khác. Thực trạng này kéo theo những hậu quả mang tính tiêu cực không chỉ về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế xã hội.

Trước thực trạng đăng ký kết hôn cũng như tác hại của các vấn đề phát sinh khi “Kết hôn” không đăng ký đối với xã hội. Tôi chọn đề tài “Nguyên cứu quy định pháp luật trong lĩnh vực Đăng ký kết hôn và thực tiễn tại Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Bình Thạnh” làm đề tài báo cáo thực tập của mình.

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

– Tìm hiểu những quy định của pháp luật về vấn đề đăng ký kết hôn, nghiên cứu thực tiễn vấn đề đăng ký kết hôn tại Phường 11 quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

– Qua đó tìm ra được những bất cập, vướng mắc trong việc đăng ký kết hôn. Từ đó tìm ra được nguyên nhân, giải pháp khắc phục những hạn chế đó để công tác đăng ký kết hôn ngày càng tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi dể dàng hơn cho nhân dân đến đăng ký kết hôn mà vẩn đúng quy trình, thủ tục, không vi phạm pháp luật.

  1. Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vị nghiên cứu là vấn đề đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 11 quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh. Qua việc nghiên cứu thực trạng tình hình kết hôn tại địa phương chúng ta có thể tìm ra được những ưu điểm, những thế manh để phát huy và nhận ra được những mặt hạn chế, yếu kém để khắc phục nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác đăng ký kết hôn tại địa phương nói riêng và cả nước nói chung

  1. Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu vấn đề đăng ký kết hôn dựa theo phương pháp phân tích tổng hợp, kết hợp lý luận và thực tiễn.

Lý luận dự vào Luật hôn nhân gia đình 2014; Nghị định 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch; Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hộ tịch và nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch.

Thực tiễn là tình hình đăng ký kết hôn tại Phường 11 quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Kết cấu đề tài báo cáo thực tập:

Đề tài được chi làm 3 phần:

Phần mở đầu

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Kế cấu đề tài

Chương 1: Tổng quan về về đăng ký kết hôn

1.1.Khái niệm chung về kết hôn

1.1.1.Khái niệm kết hôn và điều kiện kết hôn

1.1.2. Khái niệm kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật

1.1.3.Khái niệm chung sống như vợ chồng và không công nhận là vợ chồng

1.2. Ý nghĩa của kết hôn

1.2.1.Ý nghĩa về mặt pháp lý

1.2.2.Ý nghĩa về mặt kinh tế – xã hội

1.2.3.Ý nghĩa về mặt văn hóa truyền thống, phong tục tập quán

Chương 2: Nội dung pháp luật Việt Nam về đăng ký kết hôn

2.1. Điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn

2.1.1. Điều kiện kết hôn

2.1.2. Thủ tục đăng ký kết hôn

2.2. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

2.2.1. Quyền yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật

2.2.2. Hậu quả của việc xử lý huỷ kết hôn trái pháp luật

2.3. Giải quyết việc kết hôn không đúng thẩm quyền và việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn

2.3.1. Giải quyết việc kết hôn không đúng thẩm quyền

2.3.2. Giải quyết việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng

ký kết hôn

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 11 Quận Bình Thạnh và một số kiến nghị

2.1.Tổng quan về Ủy ban nhân dân Phường 11 Quận Bình Thạnh

2.1.1.Về địa lý hành chính và dân cư

2.1.2.Tình hình kinh tế xã hội

2.1.3.Công tác giáo dục – đào tạo

2.1.4.Công tác quản lý TTXD – Đô thị

2.1.5.Cơ cấu các thành viên UBND

2.1.6. Cơ cấu các phòng ban UBND

2.2 Thực tiển hoạt động đăng ký kết hôn tại địa bàn Phường 11 Quận Bình Thạnh

2.2.1.Những thuận lợi và khó khăn trong việc đăng ký kết hôn của địa bàn

2.2.2.Trình tự thủ tục thực hiện việc đăng ký kết hôn tại địa bàn

2.2.3.Kết quả khảo sát thực tế việc đăng ký kết hôn tại địa bàn

2.3 Đánh giá thực tiễn hoạt động đăng ký kết hôn tại địa bàn

2.3.1. Ưu điểm

2.3.2. Nhược điểm

3.3.Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với đăng ký kết hôn

KẾT LUẬN

Xem thêm:

Cách làm bài báo cáo thực tập:  Nghiên Cứu Quy Định Pháp Luật Việt Nam Về Đăng Ký Kết Hôn

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài:  Nghiên Cứu Quy Định Pháp Luật Việt Nam Về Đăng Ký Kết Hôn các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

 

Phân Loại Thừa Kế Theo Quy Định Pháp Luật Việt Nam

Bài báo cáo thực tập: PHÂN LOẠI THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.2.1. Thừa kế theo di chúc

Bộ luật 91/2015/QH13 về Dân sự: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Di chúc còn được gọi là chúc thư do cá nhân còn sống tự nguyện lập ra với mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác, sau khi người lập di chúc chết. Người lập di chúc dựa vào ý chí và tình cảm của mình (mang tính chủ quan), định đoạt cho người khác được hưởng di sản sau khi qua đời. Do tính chất chủ quan của ý chí và mục đích chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác hưởng sau khi chết đã phản ánh tính độc lập và tự định đoạt của người lập di chúc. Theo quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau:

– Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải của bất cứ chủ thể nào khác;

– Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác;

– Chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết.

Di chúc là hành vi pháp lí đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.

Như vậy, di chúc theo quy định của pháp luật dân sự phải nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người lập khác sau khi người lập di chúc chết. Xét về tính chất của giao dịch dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc mà không có bất kì sự lệ thuộc vào bất kỳ ý kiến của ai, do vậy di chúc là giao dịch dân sự một bên. Giao dịch dân sự này là loại giao dịch đặc biệt, tuy rằng các điều kiện của chủ thể lập di chúc, ý chí của chủ thể, nội dung và hình thức của di chúc đều phù hợp với quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc nhưng di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thi hành sau khi người để lại di chúc chết. Do hành vi đơn phương của người lập di chúc và nội dung của di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho ai, truất quyền thừa kế của ai, để lại tài sản dùng vào việc thờ cúng, để lại di tặng nhằm tặng cho một hoặc nhiều người vẫn không chắc chắn vì khi còn sống, người lập di chúc có quyền thay đổi ý chí của mình trong việc lập di chúc, theo đó nội dung của di chúc cũng bị thay đổi theo. Ý chí của cá nhân người lập di chúc có tính khả biến, vì ý chí trước hết do tâm lý, tình cảm của người lập di chúc chi phối và cung bậc tình cảm đối với những người được chỉ định thừa kế theo di chúc lại rất khác nhau. Khi yếu tố tình cảm và ý chí của người lập di chúc được thể hiện ra bên ngoài dưới hình thức khách quan thì bản di chúc đó chỉ được thực hiện sau khi người lập di chúc qua đời.

Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế (cá nhân, tổ chức) và phân định tài sản, quyền tài sản cho họ, giao cho họ nghĩa vụ tài sản…

Thừa kế theo di chúc chỉ phát sinh khi người để lại di chúc chết vì khi đó di sản của người lập di chúc mới được mang ra chia cho những người được hưởng di sản trong di chúc. Hay nói cách khác thì đó là việc cụ thể hoá di chúc, hay thực hiện di chúc của người để lại di sản. Người được thừa kế theo di chúc chỉ có quyền nhận tài sản của người lập di chúc sau khi người lập di chúc chết. Người thừa kế theo di chúc nhận di sản và làm chủ sở hữu của di sản được hưởng và thừa kế theo di chúc là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của người thừa kế. Tuy nhiên, di chúc thể hiện ý chí chủ quan của người lập, do vậy ý định của ngườ lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết có thể không thực hiện được do tài sản được định đoạt trong di chúc cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc đó hoặc những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc đã chết trước, chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng, từ chối quyền hưởng di sản… thì mục đích nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế không đạt được. Phần của di chúc không thể thực hiện được là phần di chúc vô hiệu.

1.2.2. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật: Theo quy định tại Điều 675 Bộ luật Dân sự, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau:

  • Không có di chúc;
  • Di chúc không hợp pháp;

– Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước người lập di chúc; cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

– Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản;

Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

  • Phần di sản không được định đoạt rong di chúc;
  • Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

– Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được nhận di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Cá nhân có quyền sở hữu với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế. Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng.

Những người được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi. Mọi người bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi di sản nhận.

Pháp luật quy định người lập di chúc phải đáp ứng được các vấn đề về chủ thể về năng lực hành vi để đảm ảo sự tự nguyện và minh bạch cho di chúc. Còn đối với những người được hưởng di sản thừa kế thì không quy định về năng lực hành vi, ai cũng có quyền được hưởng di sản của người chết để lại theo hàng thừa kế, mọi người đều bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế. Khác với việc hưởng di sản thừa kế theo di chúc thì các phần được chia có thể không đều nhau tuy theo ý chí của người để lại di chúc, còn với thừa kế theo pháp luật mọi người đều được hưởng phần di sản bằng nhau, không ai có quyền hưởng nhiều hơn người khác.

Phạm vi những người thừa kế rất rộng, vì vậy pháp luật quy định thành nhiều hàng thừa kế. Trong đó, hàng thừa kế thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác. Các hàng thứ hai, thứ ba là những hàng dự bị nếu như người chết không còn những người ở hàng thứ nhất hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không có quyền nhận. Thừa kế theo di chúc thì có thể là bất kì ai cũng có quyền hưởng di sản thừa kế nếu họ được người lập di chúc cho hưởng trong di chúc, còn đối với thừa kế theo pháp luật thì chỉ có những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi với người để lại di sản thừa kế. Pháp luật cũng quy định các hàng thừa kế theo pháp luật thể hiện mức độ gần gũi của những người thừa kế với người để lại di sản nhằm đảm bảo quyền hưởng di sản của những người thừa kế.

Tóm lại, thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống mà không phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản mà chính là việc nhà nước thể hiện ý chí của mình trong đó để bảo đảm quyền lợi cho những người thừa kế có quan hệ gần gũi với người để lại di sản.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Phân Loại Thừa Kế Theo Quy Định Pháp Luật Việt Nam

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Phân loại thừa kế theo quy định pháp luật Việt Nam các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

 

Giải Quyết Tranh Chấp Của TAND Về Quyền Thừa Kế Theo Di Chúc Tại Thành Phố Ninh Bình

Bài báo cáo thực tập: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP CỦA TAND VỀ QUYỀN THỪA KẾ THEO DI CHÚC TẠI THÀNH PHỐ NINH BÌNH 

1.Lý do chọn đề tài báo cáo thực tập:

Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền thì vấn đề tài sản thuộc sở hữu cá nhân ngày càng phong phú, thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp. Hàng năm Toà án nhân dân các cấp đã thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án thừa kế. Nhiều vụ tranh chấp thừa kế phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục không cao. Có những bản án quyết định của toà án vẫn bị coi là chưa “thấu tình đạt lý”… Sở dĩ còn tồn tại những bất cập đó là do nhiều nguyên nhân trong đó phải kể đến là do các quy định của PLVTK chưa đồng bộ, cụ thể… Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: Thực tiễn giải quyết các tranh chấp của TAND về quyền thừa kế theo di chúc tại thành phố Ninh Bình để làm đề tài bài báo cáo thực tập. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng cấp bách cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.

2. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu

2.1. Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài bài báo cáo thực tập là làm sáng tỏ nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết các tranh chấp của TAND về quyền thừa kế theo di chúc tại thành phố Ninh Bình đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc ở nước ta.

2.2. Nhiệm vụ

Nhằm mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài bài báo cáo thực tập dự kiến có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

– Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra như:

+ Các vấn đề lý luận về pháp luật thừa kế;

+ Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật thừa kế theo di chúc;

– Đánh giá thực trạng giải quyết các tranh chấp Dân sự về tài sản thừa kế liên quan đến thừa kế theo di chúc

– Đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc.

3. Phạm vi nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này được xác định trong phạm vi các quy phạm pháp luật Việt Nam về thừa kế theo di chúc và thừa kế nói chung trong Bộ luật Dân sự 2015. Cùng với việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật, trong đề tài bài báo cáo thực tập cũng đề cập và phân tích thực tiễn thi hành và áp dụng các quy phạm thừa kế theo di chúc, nhất là thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế tại TAND Tp. Ninh Bình. Ngoài ra, khi phân tích các quy định cụ thể, cũng tham khảo thêm một số quy định tương ứng trong pháp luật một số nước để so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị có tính tham khảo nhất định.

4. Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, những phương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra.

Một số vụ án giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc cũng được sử dụng có chọn lọc để bình luận và các số liệu thống kê của Tòa án nhân dân TP. Ninh Bình cũng được tham khảo để việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn

5. Bố cục của đề tài báo cáo thực tập

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo bài báo cáo thực tập được kết cấu làm 3 phần như sau:

  • Phần 1: Giới thiệu
  • Phần 2: Thực trạng giải quyết các tranh chấp thừa kế theo di chúc tại TAND thành phố Ninh Bình
  • Phần 3: Nhận xét kiến nghị

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Giải Quyết Tranh Chấp Của TAND Về Quyền Thừa Kế Theo Di Chúc Tại Thành Phố Ninh Bình

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Giải quyết tranh chấp của TAND về quyền thừa kế theo di chúc taih thành phố Ninh Bình các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Thực Tế Việc Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Bài báo cáo thực tập: THỰC TẾ VIỆC XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG BẰNG HÌNH THỨC SA THẢI

3.1. THỰC TIỄN VIỆC XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG BẰNG HÌNH THỨC SA THẢI

3.1.1. Vụ việc 1

– Bản án lao động số 10/2011/LĐ-ST ngày 28/4/2011 của TAND huyện X thành phố Hồ Chí Minh có nội dung:

Bà NĐ_Nguyễn hoài Thư có ký hợp đồng lao động với BĐ_Công ty PPP Việt Nam vào ngày 20/6/2009, thời gian thử việc từ ngày 20/3/2009 đến ngày 19/6/2009, thời gian làm việc từ ngày 20/6/2009 đến ngày 19/6/2010, mức lương 2.000.000 đồng/tháng. Các lý do vi phạm do BĐ_Công ty PPP đưa ra là không đúng. Ông Tất trưởng phòng kinh doanh và giám đốc công ty TNHH Hải Long là ông Tuân có gặp trực tiếp bà NĐ_Thu Thư đề nghị chi mỗi tháng 1.000.000 đồng tiền cà phê, ông Tuân nói công ty đối tác nào cũng có, nên bà đồng ý nhận. Công ty Hải Long nói sẽ đến nhà đưa trực tiếp sợ phiền phức, vì vậy bà NĐ_Thu Thư cung cấp tài Khoản của Thu Tâm em bà để công ty chuyển tiền vào. Số tiền này là do công ty Hải Long tự nguyện, bà không ép buộc. Còn việc ông Thành nhà thầu bếp ăn, và kế toán đưa ra là hoàn toàn không có. Còn việc đem USB vào công ty là cũng không có. Đề nghị BĐ_Công ty PPP phải đưa ra chứng cứ chứng minh vi phạm của bà NĐ_Thu Thư. Nếu không chứng minh được, đề nghị BĐ_Công ty PPP phải xin lỗi bằng văn bản. Khi xin việc lý lịch của bà là chưa có con,nhưng khi vào làm lúc đó bà xin con mới gần 03 tháng bà đã giao bản sao khai sinh con bà NĐ_Thu Thư nộp trực tiếp cho Phạm Ngọc Khuyến nhân viên nhân sự, không có ký nhận. Bà Khuyến đã nhận nên bà Khuyến có lập danh sách để mỗi tháng bà NĐ_Thu Thư nhận được 10.000 đồng tiền con nhỏ. Việc mất hồ sơ nhân sự không do trách nhiệm của bà NĐ_Thu Thư, người quản lý hồ sơ nhân sự là chị Khuyến.

BĐ_Công ty PPP sa thải bà trong khi bà đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, công ty đã sa thải bà trái pháp luật, bà NĐ_Nguyễn hoài Thưkhông yêu cầu công ty nhận lại làm việc, bà yêu cầu BĐ_Công ty PPP Việt Nam phải trả:

Tiền lương tháng 10/2009 còn thiếu 4.800.000 đồng.

Trả lương cho những tháng không được làm việc từ ngày 01/11/2009 cho đến 19/6/2010, làm tròn là 7 tháng 15 ngày, tức là 7,5×2.000.000 đồng=15.000.000 đồng.

Bồi thường 10 tháng tiền lương, mỗi tháng 2.000.000 đồng vì thời gian giải quyết kéo dài.

Công ty phải đóng tiền bảo hiểm xã hội cho 7,5 tháng không được làm việc. Tiền nghỉ ốm 200.000 đồng.

Tiền lãi do chậm trả lương tháng 10/2009 (4.800.000 đồng) theo lãi suất 1%/tháng cho đến nay

Kết quả xét xử: Quyết định sa thải số 04 ngày 04/11/2009 của BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam trái pháp luật.

BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam có trách nhiệm trả cho bà NĐ_Nguyễn hoài Thư tiền lương tháng 10/2009 và tiền nghỉ ốm là 5.027.308 đồng và bồi thường cho bà NĐ_Nguyễn hoài Thư số tiền 19.200.000 đồng. Tổng cộng, BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam có trách nhiệm thanh toán cho bà NĐ_Nguyễn hoài Thư 24.027.308 đồng. Việc giao nhận tiền được thực hiện tại Chị cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam có trách nhiệm đóng tiền bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật trên mức lương 2.000.000 đồng/tháng từ ngày 01/11/2009 cho đến 19/6/2010 tại Bảo hiểm xã hội thành phố HCM.

Bà NĐ_Nguyễn hoài Thư có trách nhiệm đóng tiền bảo hiểm xã hội theo quiy định của pháp luật trên mức lương 2.000.000 đồng/tháng từ ngày 01/11/2009 cho đến 19/6/2010 tại Bảo hiểm xã hội thành phố HCM.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án nếu chưa thực hiện hết các khoản tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án trên khoản tiền chưa thi hành án.

3.1.2. Vụ việc 2

– Bản án lao động số 06/2018/LĐST ngày 27/6/2018 của TAND thị xã Dĩ An về Tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải, chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp thai sản và trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động. Bà Đoàn Thị Hồng V vào làm việc tại Công ty TNHH công nghiệp M( sau đây gọi tắt là Công ty) và được Công ty ký hợp đồng lao động với thời hạn 03 năm từ ngày 24/11/2008 đến ngày 01/4/2011 với công việc là nhân viên trợ lý kinh doanh cho Giám đốc. Hết thời hạn hợp đồng lao động nêu trên, Công ty tiếp tục ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn với nguyên đơn kể từ tháng 01/2015 với công việc là nhân viên kinh doanh mức lương tính đến thời điểm nghỉ việc là 5.729.000 đồng/tháng. Ngày 07/8/2017 do nguyên đơn bị đau đầu và đau bụng khi mang thai nên nguyên đơn không đi làm được và phải đi khám bệnh thì được bác sĩ chẩn đoán thai bị ra huyết, động thai và phải ở nhà dưỡng thai, phải tái khám hằng ngày nên nguyên đơn phải nghỉ việc vài ngày. Đến ngày 11/8/2017, nguyên đơn đi khám thai thêm một lần nữa theo chỉ định của bác sĩ thì lại tiếp tục được bác sĩ chỉ định dưỡng thai nên nguyên đơn tiếp tục nghỉ việc ngày 11/8/2017. Sáng ngày 14/8/2017, nguyên đơn đi làm lại bình thường thì nhân viên Công ty không cho vào làm việc và soạn sẵn đơn xin nghỉ, yêu cầu nguyên đơn ký tên nhưng nguyên đơn không ký. Nguyên đơn hỏi lý do tại sao thì nhân viên Công ty không trả lời và nói Công ty đã cho nguyên đơn nghỉ việc từ ngày 14/8/2017 với lý do nghỉ việc dài ngày không xin phép. Nguyên đơn đã trình bày là bị động thai không thể đi làm được theo chỉ định của bác sĩ và có trình sổ khám bệnh nhưng không được Công ty đồng ý. Ngay sau đó Giám đốc chỉ đạo nhân viên phòng nhân sự làm quyết định thôi việc và cho nguyên đơn nghỉ việc kể từ ngày 15/8/2017. Quyết định của Tòa án Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Hồng V đối với Công ty TNHH công nghiệp M về việc sa thải trái pháp luật.

3.1.3. Nhận xét cách giải quyết của Tòa

Đối với vụ việc thứ nhất: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bà NĐ_Nguyễn hoài Thư và BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam ký hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 20/6/2009 đến ngày 19/6/2010, thời gian thử việc từ ngày 20/3/20009 đến ngày 19/6/2009, bà NĐ_Nguyễn hoài Thư chức vụ trưởng phòng hành chính nhân sự, công việc quản lý nhân sự. Mức lương 2.000.000 đồng/tháng, phụ cấp cơm trưa. Căn cứ sa thải bà NĐ_Nguyễn hoài Thư: Lợi dụng danh nghĩa công ty nhận mối lợi cá nhân qui định tại mục 63 Điểu 9 của nội quy lao động của BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam đã đăng ký tại Sở Lao động – Thương binh và xã hội thành phố HCM. Bà NĐ_Thu Thư đã nhận tiền huê hồng của công ty TNHH Hải Long thông qua bà Nguyễn hoài Tâm là em của bà NĐ_Thu Thư, theo nội qui lao động của BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam chỉ vi phạm lần đầu là công ty sa thải nên công ty đã sa thải bà NĐ_Thu Thư theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 85 Bộ luật lao động.

Về thủ tục xử lý kỷ luật: BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam đã thực hiện việc xem xét, xử lý vi phạm kỷ luật lao động đúng theo quy định tại Điều 87 Bộ luật lao động; Khoản 1, Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính phủ; Khoản 5 Điều 1 Nghị định 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4/2003. Công ty đã lập biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động ngày 04/11/2009 đầy đủ nội dung và thành phần theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính phủ.

Về thẩm quyền xử lý kỷ luật: Quyết định của Giám đốc v/v thi hành kỷ luật lao động số 04 ngày 04/11/2009 do Giám đốc BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam ông Kim Kyung Soo ban hành đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 41/CP ngày 06/7/1995 của Chính phủ và Khoản 4 Điều 1 Nghị định 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4/2003 của Chính phủ.

Về thời hiệu xử lý kỷ luật: BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam đã ra Quyết định sa thải bà NĐ_Nguyễn hoài Thư ngày 04/11/2009, theo bản sao Giấy khai sinh bé Huỳnh Ngọc Nhã Quyên (con bà NĐ_Nguyễn hoài Thư) sinh ngày 09/01/2009, thì công ty đã sa thải bà NĐ_Thư trong khi bà NĐ_Thư đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, nên việc sa thải của BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam đối với bà NĐ_Nguyễn hoài Thư là trái pháp luật, vi phạm Khoản 3 Điều 111 Bộ luật lao động; Điểm d Khoản 2 Điều 8 Nghị định 41/CP ngày 06/7/1995 được sửa đổi bổ sung theo Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/4/2003. Người lao động bà NĐ_Nguyễn hoài Thư không muốn trở lại làm việc nên bà yêu cầu công ty bồi thường một khoản tiền tương ứng với với tiền lương và phụ cấp lương trong những ngày bà NĐ_Thư không được làm việc từ ngày 01/11/2009 cho đến 19/6/2010 là 2.000.000 đồng x 7 tháng 18 ngày= 15.200.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo qui định tại Khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động và Điều 15 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương. Công ty phải bồi thường cho bà NĐ_Thu Thư 02 tháng tiền lương là 4.000.000 đồng theo qui định tại Khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động và Điều 15 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ.

Công ty phải trả lương tháng 10/2009 còn thiếu là 4.827.308 đồng và 200.000 đồng tiền nghỉ ốm cho bà NĐ_Thu Thư. Bà NĐ_Thư làm việc chưa đủ 12 tháng nên không được hưởng trợ cấp thôi việc theo qui định tại Khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động. Tổng cộng, BĐ_Công ty TNHH PPP Việt Nam có trách nhiệm thanh toán cho bà NĐ_Nguyễn hoài Thư 24.027.308 đồng.

* Vụ việc thứ 2: Trong vụ việc trên bị đơn thừa nhận có việc ban hành Quyết định cho nghỉ việc là hình thức xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải được Công ty áp dụng đối với nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn vi phạm nội quy Công ty về thời gian làm việc. Tuy nhiên, trong thực tế, dựa vào lời khai và các căn cứ có liên quan thì việc xác định nguyên đơn đang mang thai khoảng 11 tuần 05 ngày tuổi là thừa nhân. Nguyên đơn thừa nhận đã không đi làm từ ngày 07/8/2017 đến 12/8/2017, tuy nhiên theo quy định tại Điểm d hoản 4 Điều 123, hoản 4 Điều 155 Bộ Luật lao động, bị đơn không được xử lý kỷ luật lao động nguyên đơn trong thời gian nguyên đơn có thai. Mặt khác, bị đơn đã vi phạm trình tự xử lý kỷ luật lao động là không tiến hành họp xét kỷ luật sa thải nguyên đơn, không có sự tham gia của Tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở được quy định tại Điều 123 Bộ luật lao động. Bị đơn cho rằng không biết nguyên đơn đang mang thai vào thời điểm nghỉ việc là không phù hợp. Bởi lẽ trước khi ban hành Quyết định cho nghỉ việc, bị đơn đã không để cho nguyên đơn được giải trình lý do nghỉ việc theo quy định tại Điểm c hoản 1 Điều 126 Bộ luật Lao động. Căn cứ vào Điều 126 Bộ luật lao động thì việc sa thải nguyên đơn là trái luật, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định cho nghỉ việc số 10/QĐNV –MTP-2017 ngày 14/8/2017 là có cơ sở nên chấp nhận.

Các quy định pháp luật về kỷ luật lao động nói chung và sa thải người lao động nói riêng đã góp phần hạn chế được những tranh chấp về sa thải xảy ra. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy địnhpháp luật về sa thải vẫn còn nhiều bất cập gây khó khăn cho việc áp dụng, dẫn đến xảy ra vi phạm chủ yếu xuất phát từ phía người sử dụng lao động. Sa thải là hình thức xử lý kỷ luật nghiêm khắc nhất, để lại hậu quả nặng nề nhất đối với người lao động. Nên để đảm bảo quyền lợi của người lao động, tránh sự tùy tiện của người sử dụng lao động, hạn chế các tranh chấp lao động, pháp luật lao động quy định rất chặt chẽ các căn cứ xử lý sa thải người lao động. Chỉ khi nào người lao động vi phạm những hành vi được quy định tại Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 và được người sử dụng lao độngcụ thể hóa trong nội quy lao động thì người lao động mới bị sa thải.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Thực Tế Việc Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Thực tế việc xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Những Quy Định Của Pháp Luật Về Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Bài báo cáo thực tập: NHỮNG QUY ĐỊNH  CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG BẰNG HÌNH THỨC SA THẢI

2.1. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG HÌNH THỨC KỶ LUẬT LAO ĐỘNG SA THẢI

2.1.1. ĐIỀU KIỆN VỀ NỘI DUNG

2.1.1.1. Hành vi vi phạm Kỷ luật lao động sa thải

Theo quy định tại Điều 125 Bộ luật lao động 2019 thì hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau :

Một là,người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc

Hai là,người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

Ba là,người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 BLLĐ 2019.

Bốn là,người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

2.1.1.2. Lỗi của người vi phạm

Nhìn chung các trường hợp người sử dụng lao động được quyền sa thải người lao động được pháp luật quy định tương đối chặt chẽ, hợp lý, bảo đảm được trật tự kỷ cương của doanh nghiệp cũng  như quyền lợi của người lao động và trên cơ sở kế thừa quy định tại BLLĐ 2012,chỉ những trường hợp người lao động phạm lỗi nghiêm trọng mới bị sa thải. Cụ thể:

Người lao động có một trong các hành vi gây thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động hoặc hành vi gây ảnh hưởng đến trật tự quản lý, kỷ luật lao động trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động theo quy định như trộm cắp, đập phá tài sản của doanh nghiệp; tham ô, tham nhũng, lạm dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản của người sử dụng lao động; tham gia đánh bạc, tổ chức đánh bạc hay sử dụng chất kích thích (cụ thể là ma túy) trong phạm vi nơi làm việc; hay có các hành vi sử dụng, tiết lộ các bí mật của doanh nghiệp (như bí mật kinh doanh, bí quyết kinh doanh, công nghệ) hay xâm phạm các quyền về sở hữu trí tuệ, về tài sản của người sử dụng lao động (được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 125 BLLĐ 2019). Đây là những hành vi không chỉ làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, lợi ích của người sử dụng lao động mà còn gây rối loạn trật tự kỷ luật lao động, nội quy nơi làm việc, gây ảnh hưởng đến cộng đồng tập thể người lao động xung quanh, gây tâm lý hoang mang trong nội bộ người lao động tại nơi làm việc.

Đối với các hành vi trên, pháp luật lao động hiện hành không quy định rõ về khái niệm, đặc điểm và cũng không quy định về mức độ trị giá tài sản, mức độ vi phạm như thế nào là bị xử lý sa thải người lao động… Tuy nhiên, dựa trên các quy định tại Điều 125 BLLĐ 2012 và các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Hình sự 2015, Luật sở hữu trí tuệ 2005, Bộ luật dân sự 2015… để có thể hiểu về các hành vi nêu trên.

2.1.1.3. Hành vi vi phạm Kỷ luật lao động sa thải phải được quy định trong nội quy lao động

Thứ hai, người lao động có hành vi tái phạm trong thời gian chưa được xóa kỷ luật lao động theo quy định gồm hành vi tái phạm của người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mặc dù đang trong thời gian chưa được xóa kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà còn tái phạm.

Tái phạm được hiểu là hành vi lặp đi, lặp lại hành vi vi phạm đã được xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định.

Khi người lao động bị sa thải người lao động theo hình thức kéo dài thời hạn nâng lương mà sau 06 tháng kể từ ngày bị xử lý, họ không tái phạm thì sẽ đương nhiên được xóa kỷ luật. Còn trường hợp người lao động bị sa thải người lao động theo hình thức cách chức thì họ sẽ được xóa kỷ luật và không bị coi là tái phạm sau thời gian 03 năm kể từ ngày bị xử lý.

Do đó, có thể hiểu, khi người lao động có hành vi tái phạm trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương trước đó, hoặc tái phạm trong thời gian 03 năm kể từ ngày bị xử lý kỷ luật cách chức thì có thể bị áp dụng biện pháp xử lý sa thải người lao động theo quy định.

Người lao động đã có hành vi tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng:  Khi người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.thì họ có thể bị áp dụng biện pháp xử lý sa thải người lao động. Trong đó, lý do chính đáng được hiểu là những trường hợp bất khả kháng, nằm ngoài khả năng dự liệu, phòng tránh của người lao động bao gồm: Do thiên tai, hỏa hoạn ví dụ như bão, lũ, cháy nổ làm hư hỏng tài sản, nhà ở gây khó khăn cho cuộc sống của người lao động buộc họ phải tạm thời nghỉ việc, không kịp xin phép người lao động để khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống. Do bản thân người lao động, cha mẹ đẻ, cha mẹ chồng/ cha mẹ vợ, con đẻ hoặc con nuôi hợp pháp của người lao động bị ốm đau, bệnh tật, có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền buộc người lao động phải nghỉ việc để điều trị, để chăm sóc. Hoặc một số trường hợp được quy định trong nội quy, quy chế của doanh nghiệp.

Đối với trường hợp NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần báo trước. Đây là một điểm mới, bởi lẽ theo quy định tại Khoản 3, Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải (Bộ luật Lao động năm 2012), nếu NLĐ tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng, NSDLĐ có quyền kỷ luật sa thải NLĐ. Tuy nhiên, để xử lý kỷ luật sa thải, NSDLĐ phải tuân theo trình tự, thủ tục khác phức tạp, do đó nhiều doanh nghiệp khi gặp trường hợp này thường bỏ qua hoặc tìm lý do khác để chấm dứt HĐLĐ.

Nếu thuộc một trong các trường hợp được coi là lý do chính đáng được xác định ở trên thì người sử dụng lao động không được áp dụng hình thức xử lý sa thải người lao động. Hình thức sa thải là một trong những hình thức xử lý kỷ luật và được xác định là một trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 34 Bộ luật lao động năm 2019, nhưng không phải trường hợp nào người sử dụng lao động cũng được sa thải người lao động mà chỉ được áp dụng hình thức này trong một số trường hợp nhất định mà pháp luật có quy định.

2.1.2. ĐIỀU KIỆN VỀ HÌNH THỨC

2.1.2.1. Thẩm quyền xử lý kỷ luật sa thải

Khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP quy định: Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động.

Cụ thể đây là:

– Người đại diện theo pháp luật quy định tại điều lệ của doanh nghiệp, hợp tác xã (Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc…);

– Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức có tư cách pháp nhân;

– Người được các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân ủy quyền làm người đại diện;

– Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động;

– Người được người đại diện theo pháp luật hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức ủy quyền bằng văn bản về việc giao kết hợp đồng lao động.

Việc xử lý kỷ luật lao động có thể ảnh hưởng tới thu nhập, thậm chí là việc làm của người lao động. Chính vì vậy, để tránh bị khiếu nại, khiếu kiện cũng như để răn đe những lao động khác trong doanh nghiệp, người sử dụng lao động phải tuyệt đối tuân thủ thẩm quyền, trình tự, thủ tục trong xử lý kỷ luật lao động.

2.1.2.2.  Thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải

Trang chủ Tư vấn Pháp luật Tư vấn luật lao động

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là bao lâu ? Quy trình kỷ luật lao động

Lê Minh Trường  17/09/2019  Tư vấn luật lao động 0

Thưa luật sưXin hỏi: Vào trưa ngày 30. 12. 2014 (từ 11 giờ 40- 12 giờ 30), tôi và một số đồng nghiệp có ăn trưa và có dùng một ít bia (không có bất cứ hành vi nào bị phản ánh), chiều hôm đó chúng tôi không thực hiện nhiệm vụ (vì chiều chúng tôi được nghỉ theo quy định của cơ quan).

Mục lục bài viết [ Hiện ]

Theo Điều 118 Luật lao động năm 2012 có quy định: Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.

Theo điều Điều 124 Luật lao động 2012 có quy định về Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động như sau:

  1. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 06 tháng, kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 12 tháng.
  2. Khi hết thời gian quy định tại các điểm a, b và c khoản 4 Điều 123, nếu còn thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động thì người sử dụng lao động tiến hành xử lý kỷ luật lao động ngay, nếu hết thời hiệu thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

Khi hết thời gian quy định tại điểm d khoản 4 Điều 123, mà thời hiệu xử lý kỷ luật lao động đã hết thì được kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

  1. Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được ban hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Theo quy định tại điều , thẩm quyền lao động xử lí kỷ luật thuộc về Người sử dụng lao động, hoặc người có thẩm quyền, trong trường hợp của bạn, người có thẩm quyền là thủ trưởng cơ quan của bạn là hoàn toàn hợp lí.

Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Lao động, thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động tối đa là 12 tháng.

Với những trường hợp người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật (người lao động đang trong thời gian nghỉ ốm đau, điều dưỡng…) thì khi hết thời gian này, nếu còn thời hiệu để xử lý kỷ luật thì phải xử lý ngay. Trường hợp hết thời hiệu thì được kéo dài nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

Vậy thời hiệu là gì? Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu rõ: Thời hiệu là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác mà khi kết thúc khoảng thời gian đó sẽ phát sinh hậu quả pháp lý theo điều kiện do luật định. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu phát hiện ra hành vi vi phạm, người sử dụng lao động chỉ được xử lý kỷ luật người lao động trong khoảng thời gian nêu trên, hết thời gian này sẽ không được xử lý kỷ luật nữa.

2.1.2.3. Nguyên tắc xử lý kỷ luật sa thải

Căn cứ Điều 123 thì việc xử lý lỷ luật sa thải phải tuân thủ nguyên tắc, trình tự sau đây:

  1. a) Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;
  2. b) Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;
  3. c) Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật;
  4. d) Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản.

Như vậy, doanh nghiệp khi xử lý kỉ luật lao động thì ngoài việc phải chứng minh được lỗi, còn cần phải có sự tham gia của người lao động và việc xử lý kỉ luật cần phải được lập thành biên bản. Công ty ra quyết định sa thải bạn như vậy là không đúng theo trình tự, quy định của pháp luật..

Trong trường hợp này, người sử dụng lao động đã sa thải người lao động trái pháp luật. Bạn có thể căn cứ vào nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động để từ đó dẫn sang quyền của mình được hưởng. Theo đó, Điều 42 Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

  1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
  2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
  3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
  4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
  5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

2.1.2.4. Thành phần tham gia xử lý kỷ luật sa thải

2.1.2.5. Trình tự tiến hành xử lý kỷ luật sa thải

Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ – CP quy định trình tự xử lý kỷ luật lao động:

“Trình tự xử lý kỷ luật lao động tại Điều 123 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

  1. Người sử dụng lao động gửi thông báo bằng văn bản về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động cho Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, người lao động, cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật của người lao động dưới 18 tuổi ít nhất 5 ngày làm việc trước khi tiến hành cuộc họp.
  2. Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động được tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành phần tham dự được thông báo theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Trường hợp người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo bằng văn bản, mà một trong các thành phần tham dự không có mặt thì người sử dụng lao động tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật quy định tại Khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ – CP, thành phần tham dự phiên họp xử lý kỷ luật gồm: Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở; người lao động, cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật của người lao động dưới 18 tuổi và người sử dụng lao động. Và phiên họp chỉ được tiến hành khi có đầy đủ các thành phần trên, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này. Trong quá trình họp xử lý kỷ luật, người sử dụng lao động có trách nhiệm chứng minh hành vi vi phạm của  NLĐ; NLĐ có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Những Quy Định Của Pháp Luật Về Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Những quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Khái Quát Chung Về Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Bài báo cáo thực tập: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG BẰNG HÌNH THỨC SA THẢI

1.1. Một Số Khái Niệm Về Hình Thức Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Hiện nay, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về khái niệm “sa thải”. Tuy nhiên, sa thải là một trong những hình thức xử lý kỷ luật được quy định tại Điều 125 BLLĐ 2012 và BLLĐ 2019, bên cạnh hình thức xử lý kỷ luật khiển trách hoặc kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng hoặc cách chức. Hình thức xử lý sa thải người lao động là một trong những căn cứ dẫn đến việc chấm dứt hợp đồng lao động, chấm dứt quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động.Như vậy, sa thải là hình thức Kỷ luật lao động sa thải dẫn đến quan hệ lao động của người lao động bị chấm dứt, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Sa thải là hình thức nghiêm khắc nhất, nặng nhất mà người lao động có thể bị áp dụng. Trên thực tế, việc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải gây ảnh hưởng rất lớn đến người lao động bởi vì khi bị sa thải là đồng nghĩa với chấm dứt việc làm đối với người lao động, lúc này người lao động sẽ khó khăn trong thu nhập, ổn định cuộc sống và đi tìm kiếm công việc mới.

Như vậy, sa thải là một trong những hình thức Kỷ luật lao động sa thải được quy định tại BLLĐ. Điều này có nghĩa là sa thải là một hình thức kỷ luật được quy định của BLLĐ ghi nhận và thực hiện. Thông qua quy định của pháp luật thì trong quá trình thực hiện hợp đồng đã được ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động thì người lao động phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo quy định đã được giao kết giữa hai người.

1.2.  PHÂN BIỆT HÌNH THỨC XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG SA THẢI VỚI ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỒNG

Sa thải và đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có sự giống nhau ở chỗ: đều là việc chấm dứt hợp đồng lao động theo ý chí của người sử dụng lao động. Tuy nhiên việc chấm dứt như thế nào, nguyên nhân chấm dứt hợp đồng lao động sẽ ảnh hưởng đến vấn đề về quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể cũng như tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng. Việc phân biệt sự khác nhau được dựa trên các tiêu chí sau:

– Về chủ thể: Người sử dụng lao động và người lao động đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Còn Chỉ người sử dụng lao động mới có thể áp dụng hình thức sa thải người lao động.

– Về bản chất: Đơn phương chấm dứt hợp đồng là một biện pháp hành chính còn sa thải là một trong những hình thức Kỷ luật lao động sa thải.

– Về căn cứ pháp lý: Đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Mục 3 – Sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động Bộ luật Lao động2019 (quy định từ điều 34 đến 48), với các nội dung về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động, người sử dụng lao động; các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật, trái pháp luật; thủ tục khi đơn phương chấm dứt hợp đồng,còn sai thải được quy định tại Điều 125và Điều 126 BLLĐ 2019.

– Về nguyên nhân: Đơn phương chấm dứt hợp đồng do nguyên nhân khách quan (như thiên tai, tình huống bất khả kháng) hoặc nguyên nhân chủ quan (như bị xâm hại, ngược đãi, bị ốm đau bệnh tật – đối với người lao động hoặc là do người lao động không thực hiện theo đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình – đối với người sử dụng lao động). Đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần phải xuất hiện hành vi vi phạm. Còn sa thải là hình thức kỷ luật áp dụng đối với người lao động có hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 125 BLLĐ 2019.[1]

– Về thủ tục: Đối với đơn phương chấm dứt hợp đồng thì trước khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng thì phải báo cho bên còn lại biết trước một thời gian theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 35 và trong thời hạn pháp luật quy định tại Điều 48 BLLĐ2012, các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày và người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. Còn sa thải thì người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động; Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật; Việc sa thải người lao động phải được lập thành biên bản. Trình tự thủ tục hiện nay vẫn áp dụng theo quy định của Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

– Về hậu quả pháp lý: Đối với đơn phương chấm dứt hợp đồng thì người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng hợp pháp có thể được nhận trợ cấp thôi việc. Còn người lao động sau khi bị sa thải không được nhận trợ cấp thôi việc.

Tóm lại,giữa sa thải và đơn phương chấm dứt HĐLĐ đều là hình thức chấm dứt hợp đồng, cùng kết thúc quan hệ lao động nhưng đơn phương chấm dứt hợp đồng lại mang đến nhiều quyền lợi hơn cho người lao động và thủ tục ngắn gọn, dễ dàng hơn. Sa thải mang lại nhiều bất lợi cho người lao động nhưng lại là biện pháp có lợi cho người sử dụng lao động vì không những không phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động mà còn là biện pháp có tính răn đe mạnh mẽ đối với người lao động.

1.3. Ý NGHĨA CỦA HÌNH THỨC XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG SA THẢI

Kỷ luật lao động sa thải là những tiêu chuẩn quy định hành vi cá nhân của người lao động dựa trên ý chí của người sử dụng lao động và pháp luật hiện hành, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ, nếu có vi phạm xảy ra người lao động phải chịu trách nhiệm trước người sử dụng lao động về hành vi vi phạm của mình. Là một chế định của Luật lao động, chế độ Kỷ luật lao động sa thải là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; quy định những biện pháp khuyến khích người lao động gương mẫu chấp hành cũng như những hình thức xử lý đối với người không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ những nghĩa vụ, trách nhiệm đó.

Ý nghĩa của Kỷ luật lao động sa thải: Việc tuân thủ Kỷ luật lao động sa thải có ý nghĩa cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội, cụ thể:

– Thông qua việc duy trì Kỷ luật lao động sa thải, người sử dụng lao động có thể bố trí sắp xếp lao động một cách hợp lý để ổn định sản xuất, ổn định đời sống người lao động và trật tự xã hội nói chung.

– Nếu xác định được nội dung hợp lý, Kỷ luật lao động sa thải còn là một nhân tố quan trọng để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu

– Tuân thủ Kỷ luật lao động sa thải, người lao động có thể tự rèn luyện để trở thành người công nhân của xã hội hiện đại, có tác phong công nghiệp, là cơ sở để họ đấu tranh với những tiêu cực trong lao động sản xuất.

– Trật tự, nề nếp của một doanh nghiệp và ý thức tuân thủ kỷ luật của người lao động là những yếu tố cơ bản để duy trì quan hệ lao động ổn định, hài hòa. Đó cũng là điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động, giúp cho người lao động không bị bỡ ngỡ khi làm việc trong các điều kiện khác biệt

 Xem : Điều 125 BLLĐ 2019:

Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:

  1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
  2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
  3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
  4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Khái Quát Chung Về Xử Lý Kỷ Luật Lao Động Bằng Hình Thức Sa Thải

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Khái quát chung về xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149