Điều gì sẽ xảy ra nếu một công ty không có một sơ đồ tổ chức và bản mô tả vị trí công tác?

4: Điều gì sẽ xảy ra nếu một công ty không có một sơ đồ tổ chức và bản mô tả vị trí công tác?

Nếu một công ty không  có một sơ đồ tổ chức và bản mô tả vị trí công việc sẽ gặp phải những khó khăn nhất định, như:

– Có sự chống chéo trong công việc giữa các bộ phận phòng ban, làm giảm hiệu quả lao động. Cơ cấu tổ chức có chức năng xác định rõ trách nhiệm và cách thức thể hiện vai trò của mỗi thành viên theo quy chế của bản mô tả công việc, sơ đồ tổ chức và hệ thống phân cấp quyền hạn trong tổ chức.

– Công ty thiếu cơ sở để đánh giá hiệu quả của nhân vien. Khi một cơ cấu tổ chức đã hoàn chỉnh, sẽ làm cho nhân viên hiểu rõ những kỳ vọng của tổ chức đối với họ thông qua các quy tắc, quy trình làm việc. Ngoài ra, cơ cấu tổ chức còn góp phần xác định quy chế thu thập, xử lý thông tin để ra quyết định và giải quyết các vấn đề của tổ chức, trong đó có việc đánh giá kết quả hoạt động của nhân viên.

– Chi phí vận hành có thể bị đội lên cao do chậm chễ, chồng chéo trong việc thực hiện công việc. Nếu xây dựng cơ cấu tổ chức có tác dụng phân bố nguồn lực hợp lý cho từng công việc cụ thể, từ đó có thể tiết kiệm nguồn lực, hạ thấp chi phí nhân công, hạ giá thành sản phẩm.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và thuê viết báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số.

Bộ Phận Nào Quan Trọng Trong Doanh Nghiệp

ĐỀ BÀI: BỘ PHẬN NÀO QUAN TRỌNG TRONG DOANH NGHIỆP?

Công ty ABC gặp khó khăn trong những năm 2006. Trong một cuộc họp giao ban Ban giám đốc, mọi người đều nêu vấn đề lương bổng, họ cho rằng vì lương bổng quá thấp nên không tạo ra tinh thần làm việc trong công nhân. Giám đốc công ty trả lời ông không quan tâm đến vấn đề đó, ông cũng nhấn mạnh rằng vấn đề đó là nhiệm vụ của phó Giám đốc phụ trách nhân sự. Giám đốc công ty nguyên là một chuyên viên tài chính giỏi. Hội đồng quản trị giao chức vụ Giám đốc cho ông với hy  vọng tài năng chuyên môn của ông sẽ giúp cho công ty vượt qua giai đoạn khó khăn tài chính trầm trọng.

Ban đầu thì mọi việc cũng có tiến triển, ông đã dùng các kỹ thuật tài chính để giải quyết được những món nợ của công ty, nhưng vấn đề sâu xa thì ông vẫn không giải quyết được. Là một chuyên viên tài chính cho nên ông thường bối rối khi phải tiếp xúc đối mặt với mọi người. Vì vậy ông thường dùng văn bản giấy tờ cho các mệnh lệnh chỉ thị hơn là tiếp xúc trực tiếp với mọi người. Ông cũng là người phó mặc những vấn đề về kế hoạch và nhân sự cho các cấp phó của mình vì ông quan niệm tài chính là quan trọng nhất. Mọi cố gắng cải tổ của công ty đều có nguy cơ phá sản. Các quản trị viên cấp giữa ít hợp tác, các quan trị viên cao cấp thì không thống nhất.

Mình nhận làm báo cáo thực tập cho các bạn sinh viên có nhu cầu, không có thời gian viết bài, không có thời gian thực tập, bận học lại môn và một  số lí do khác khiến các bạn không thể viết bài. Các bạn có nhu cầu tư vấn liên hệ mình qua  SĐT/ZALO: 0973287149

Yêu cầu:

1. Theo bạn tại sao Hội đồng quản trị lại bổ nhiệm vị Giám đốc mới đó? Bạn có ý kiến gì về việc này?

2. Qua tình huống trên bạn nhận xét gì về hoạt động quản trị trong công ty ABC?

3. Giám đốc công ty Công ty ABC đã làm tốt chức năng nào và chưa làm tốt chức năng nào?

4. Nếu bạn ở cương vị Giám đốc công ty Công ty ABC bạn sẽ làm gì để phát triển công ty này?

5. Phân tích các vấn đề mà Công ty thường gặp trong hoạt động quản trị? Hãy chọn một vấn đề bạn cho là quan trọng nhất và nêu giải pháp khắc phục.

Lời giải: Bộ Phận Nào Quan Trọng Trong Doanh Nghiệp

BÀI LÀM

Câu 1:  Lý do Hội đồng quản trị lại bổ nhiệm vị Giám đốc mới và ý kiến cá nhân.

Trong bối cảnh đối diện với khó khăn về tài chính của công ty ABC, hội đồng quản trị là đã quyết định bổ nhiệm  một chuyên viên tài chính giỏi làm Giám đốc công ty, với hy vọng giúp công ty vượt qua giai đoạn khó khăn tài chính trầm trọng.

Ban đầu thì mọi việc cũng có bước tiến triển tốt, vì giám đốc này đã dùng các kỹ thuật tài chính để giải quyết được những món nợ của công ty, nhưng vấn đề sâu xa thì ông vẫn không giải quyết được, đó là hoạt động quản trị nhân sự, quản trị con người.

Trên cương vị một nhà quản trị giỏi đòi hỏi phải có ba yếu tố Tâm – Tầm – Tài. Trên thực tế con người là yếu tố quan trọng, quyết định sự tồn vong của công ty, nếu chỉ có Tài và Tầm thôi thì chưa đủ, đòi hỏi cần phải có Tâm để quản trị nguồn nhân lực, phải có nghệ thuật dùng người.

Vì chỉ tài giỏi trong lĩnh vực tài chính, nên giám đốc thường bối rối khi phải tiếp xúc đối mặt với mọi người. Ông thường dùng văn bản giấy tờ cho các mệnh lệnh chỉ thị hơn là tiếp xúc trực tiếp với mọi người. Ông cũng là người phó mặc những vấn đề về kế hoạch và nhân sự cho các cấp phó của mình vì ông quan niệm tài chính là quan trọng nhất.

Quan niệm tài chính quan trọng là đúng, vì có tài chính thì doanh nghiệp mới duy trì được hoạt động sản xuất. Tuy nhiên đó không phải là quan trọng nhất, mà con người mới nắm vai trò bậc nhất trong kinh doanh nói riêng, và trong mọi mặt kinh tế xã hội nói chung. Như Bác từng khẳng định: “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ lao động của con người”, vì vậy các nhà quản trị giỏi luôn luôn quan điểm về phát huy nhân tố con người trong quá trình sản xuất kinh tế là một vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh của công ty. Thực tế cho thấy máy móc tối tận đến đâu mà không có yếu tố con người tham gia vào thì nó chỉ là những đống sắt vô dụng.

Vì vậy việc bổ nhiệm giám đốc của hội đồng quản trị là chưa có sự nhận định chính sát, vì giám đốc mới không có khả năng quản trị con người.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và thuê viết báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số.

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu mặt hàng dệt may của các DN Việt Nam hiện nay.

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu mặt hàng dệt may của các DN Việt Nam hiện nay.

1 Nhóm nhân tố khách quan

Đây là nhóm nhân tố doanh nghiệp không thể kiểm soát nhưng chúng lại có tác động to lớn đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Một sự biến động của chúng có thẻ làm cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp bị ngừng trệ, thậm chí bị huỷ bỏ. Do doanh nghiệp không thể kiểm soát hay tác động đến chúng nên việc nghiên cứu nắm bắt các nhân tố này là cơ sở để doanh nghiệp lập kế hoạch xuất khẩu và có những biện pháp điều chỉnh kịp thời trước những biến động.

  • Môi trường chính trị .

Nhắc đến môi trường chính trị trong hoạt động xuất khẩu trước hết phải nói đến chế độ chính trị. Vì hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp là biểu hiện quan hệ quốc tế giữa hai quốc gia. Ngày nay với quan điểm phát triển hợp tác đa phương cùng có lợi, hoạt động xuất khẩu được tiến hành mà không gặp sự cản trở do sự khác biệt về chế độ chính trị giữa các quốc gia. Nhưng trước đây, có thời kỳ sự  khác biệt đó là một rào cản, không chỉ ngăn cách quan hệ ngoại thương mà còn cản trở quan hệ hợp tác khác. ở giai đoạn khác hạot động xuất khẩu chỉ tiến hành giữa các nước xã hội chủ nghĩa hay giữa các quốc gia tư bản chủ nghĩa với nhau.

Sự ổn định về chính trị giữa các quốc gia, khu vực đặc biệt là của nước nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu. Một môi trường chính trị thường xuyên biến đổi làm suy giảm niềm tin của doanh ngiệp về thị trường nước ngoài và làm tăng độ rủi ro trong kinh doanh.

  • Môi trường kinh tế.

Hoạt động xuất khẩu là một trong các lĩnh vực của hoạt động kinh tế. Do vậy nó cũng biến động theo tình hình kinh tế của từng quốc gia. Để đánh giá sự biến động đó, thường xem xét nhiều chỉ tiêu như : Tốc độ tăng trưởng, tình hình lạm phát và khả năng kiểm soát lạm phát, tiềm năng của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế… Những chỉ tiêu đó không chỉ phản ánh khái quát chung về môi trường kinh doanh ở một  quốc gia. Bên cạnh đó, nó phản ánh nhu cầu của quốc gia đó về các loại sản phẩm hàng hoá.

Những quốc gia mà ở đó đại bộ phận dân cư sản xuất nông nghiệp giản đơn. Hàng hoá sản xuất ra được chính họ tiêu dùng, phần còn lại dùng để trao đổi trực tiếp lấy hàng hoá khác. Điều kiện đó khiến cho hoạt động xuất khẩu hàng hoá sang các thị trường đó là khó khăn.

Những nước sản xuất và xuất khẩu nguyên vật liệu thô chưa qua chế biến. Đây thường là các quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên do vậy thường là thị trường lớn cho xuất khâu thiết bị khai khoáng và hàng tiêu dùng. Những nước đang phát triển lại là thị trường có nhu cầu cao về nguyên vật liệu và các thiết bị máy móc hiện đại. Trong khi đó, những nước công nghiệp phát triển là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho mọi loại hàng hoá.

  • Môi trường văn hoá xã hội.

Yếu tố văn hoá xã hội của thị trường mà doanh nghiệp dự định xuất khẩu cũng có một ảnh hưởng lớn. Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp cần phải hướng tới khách hàng. Trong khi quy mô về dân số, tốc độ phát triển của dân cư, cơ cấu dân số… lại quy định nhu cầu về sản phẩm hàng hoá và xu thế biến động trong tương lai.

Thu nhập và mức sống của người dân của thị trường nước ngoài quyết định đến nhu cầu tiêu thụ và tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm. ở những quốc gia có đời sống càng cao như ở các nước tư bản phát triển yêu cầu về chất lượng rất khắt khe, mẫu mã sản phẩm phải được thường xuyên cải tiến trong khi vấn đề giá cả có thể chỉ là thứ yếu. Tại đó hàng hoá tiêu dùng cao cấp, xa xỉ dễ được chấp nhận. Ngược lại đối với quốc gia có mức thu nhập thấp, giá cả lại là yếu tố hàng đầu. Doanh nghiệp cân phải dựa vào đặc điểm này để xây dựng chiến lược xuất khẩu hợp lý.

Vấn đề dân tộc, chủng tộc và tôn giáo: đặc điểm này rất đa dạng ngay cả trong một quốc gia. Mỗi vùng, địa phương có phong tục, tập quán riêng ở đó có các quy tắc và những điều cấm kỵ riêng có thể ngăn cản khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

  • Môi trường khoa học công nghệ.

Trong điều kiện hiện nay, khi môi trường khoa học công nghệ thay đổi từng ngày từng giờ, giữa các quốc gia khác nhau trình độ khoa học công nghệ khoa học khác nhau. Nhân tố khoa học công nghệ lại chi phối mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Muốn hàng hoá doanh nghiệp có thể xuất khẩu và được thị trường nước ngoài chấp nhận, thì việc không ngừng nắm bắt vận dụng thành tựu khoa học công nghệ là yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp.

  • Hệ thống các chính sách của quốc gia.

Các chính sách quốc gia luôn có tác động sâu sắc và toàn diện lên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội của quốc gia. Các chính sách đó một mặt tác động gián tiếp bằng cách làm thay đổi các nhân tố nêu trên ( môi trường chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học công nghệ  ) mặt khác còn tác động trực tiếp mạnh mẽ đến hoạt đông xuất khẩu.

  • Chính sách tỷ giá hối đoái: Đây là công cụ hữu hiệu của nhà nước để quản lý xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm làm cho giá cả của hàng xuất khẩu trở lên rẻ hay đắt một cách tương đối. Sự thay đổi đó có thể tạo ra biến động về nhu cầu của hàng hoá xuất khẩu. Nhưng một chính sách tỷ giá hối đoái ổn định luôn là điều mà bất kỳ doanh nghiệp xuất khẩu nào cũng mong đợi.
  • Chính sách tiền tệ và quản lý ngoại tệ: Quản lý ngoại tệ khiến cho việc thanh toán các hợp đồng kinh doanh xuất khẩu trở nên khó khăn do đối tác không đủ lượng ngoại tệ do sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Trong khi đó, chính sách tiền tệ là công cụ nhà nước quản lý lạm phát hay tác động đến tỷ giá hối đoái. Chính sách đó có thể khuyến khích hay hạn chế nhu cầu tiêu dùng của người dân.
  • Hệ thống pháp luật: ở mỗi quốc gia quy định khác nhau về các mặt hàng được phép hay không được phép xuất nhập khẩu qua biên giới của mình. Cùng với đó là các quy định về mức thuế, hạng nghạch cho từng nhóm hàng. Thuế nhập khẩu là nhân tố tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu, các nước nhập khẩu dùng nó để bảo hộ cho nền sản xuất nội địa và làm tăng giá cả sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp. Hạn ngạch tuy không làm tăng giá cả nhưng hạn chế về quy mô, số lượng sản phẩm được phép xuất khẩu.
  • Hệ thống các chính sách ưu đãi : đây là chính sách mà doanh nghiệp cần triệt để lợi dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Do mỗi quốc gia trong các giai đoạn khác nhau có chiến lược, sách lược khác nhau để đạt được mục tiêu cho chiến lược xuất khẩu. Do vậy, họ thường xây dựng nhiều chính sách ưu đãi. Đỗi với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, đó có thể là việc giảm thuế, miễn thuế hay biện pháp hỗ trợ xuất khẩu…Doanh nghiệp có thể hưởng ưu đãi do các hiệp định thương mại, quy chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN), hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) đối với quốc gia mình để có được mức thuế ưu đãi gia tăng hạn ngạch xuất khẩu.

Hệ thống các chính sách, pháp luật của mỗi quốc gia luôn thay đổi, buộc  các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu cần phải có những điều chỉnh linh hoạt và hợp lý để thích ứng kịp đối với quy định mới ở những thị trường đã, đang và sẽ tiến hành hoạt động xuất khẩu.

  • Đối thủ cạnh tranh.

Hoạt động xuất khẩu chính là việc doanh nghiệp phải cạnh tranh để tiêu thụ hàng hoá ở thị trường nước ngoài. Trong bối cảnh hiện nay, khi các quốc gia đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập và phát triển. Sự cạnh tranh đó là tất yếu, nó đảm bảo cho doanh nghiệp chỗ đứng trên thị trường quốc tế, giúp doanh nghiệp nâng cao hình ảnh của mình. Việc nắm rõ về đối thủ cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược kinh doanh, chiên lược cạnh tranh có hiệu quả nhất.

  • Vị trí địa lý, khí hậu.

Trong hoạt động xuất khẩu, hàng hoá thương chuyển qua các quốc gia, do vậy khoảng cách giữa các quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu,ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển, lựa chọn hình thức vận chuyển. Những vấn đề nay thường được quy định rõ trong các hợp đồng xuất khẩu. Còn điều kiện khí khác biệt giữa các quốc gia lại tác động đến hoạt động bảo quản hay ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ, chủ yếu là đối với sản phẩm sản xuất và tiêu thụ theo vụ mùa như nông sản.

2 Nhân tố chủ quan.

  • Tiềm lực tài chính.

Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp cũng như bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh khác đều cần có vốn. Khi xem xét nhân tố nay, cần phải chú ý đến các chỉ tiêu về quy mô vốn và khả năng thanh toán. Quy mô vốn của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô khả năng sản xuất hàng hoá tức là tác động đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Dựa trên quy mô vốn của mình, doanh nghiệp lựa chọn đoạn thị trường mà doanh nghiệp dự định kinh doanh xuất khẩu. Còn đối với phía nước ngoài, các chỉ tiêu về khả năng thanh toán là cơ sở để họ lựa chọn bạn hàng để ký kết hợp đồng.

  • Nguồn lao động, máy móc thiết bị và công nghệ.

Đây là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất của doanh nghiệp và quyết định đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là tiêu chí hàng đầu trong việc cạnh tranh với các sản phẩm khác ở thị trường nước ngoài. Doanh nghiệp quản lý và sử dụng hợp lý lao động, máy móc, thiết bị thì chất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao, qua đó làm tăng hiệu quả hoạt động xuất khẩu.

  • Quản lý chi phí và chính sách giá.

Quản lý chi phí và chính sách giá là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu. Việc quản lý chi phí tốt sẽ dẫn tới việc giá thành sản phẩm hạ, và do đó giá cả hàng hoá giảm. Giá cả hàng hóa cũng là một yếu tố cạnh tranh của sản phẩm. Sản phẩm cá chất lượng tốt, đảm bảo thì giá cả thấp là một lợi thế để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Khách hàng sẽ chấp nhận sản phẩm với giá cả thấp và hàng hoá của doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước ngoài dễ ràng hơn.

  • Trình độ quản lý.

Trình độ quản lý của doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng đến xuất khẩu. Một doanh nghiệp xuất khẩu có trình độ quản lý tốt sẽ là một đảm bảo cho chất lượng sản phẩm,  tạo cho khách hàng một sự đảm bảo và tin cậy giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường nước ngoài chấp nhận, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp.

  • Uy tín và hình ảnh doanh nghiệp trên trường quốc tế.

Đây là một trong những lợi thế vô hình mà doanh nghiệp không thể lượng hoá hết. Doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp có thể được thị trường trong và ngoài nước biết đến và chấp nhận hay không phụ thuộc vào các yếu tố này. Nhiều sản phẩm có thể tiêu thụ mạnh tại thị trường nội địa nhưng khi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài lại không tiêu thụ được mặc dù giá cả rẻ, chất lượng cao. Đó là do tên tuổi, nhãn hiệu sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp còn quá xa lạ với người tiêu dùng nước ngoài, tạo cho họ sự lưỡng lự khi lựa chọn tiêu dùng hàng hoá của doanh nghiệp.Khi doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một hình ảnh, tên tuổi trên thị trường thế giới chính là tạo ra cho khách hàng và đối tác kinh doanh khác một sự đảm bảo tin cậy. Nhờ vậy sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng được thị trường nước ngoài chấp nhận, dễ dàng tiêu thụ hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm chủa doanh nghiệp khác.

Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, doanh nghiệp chỉ có thể kiểm soát một phần. Do vậy, việc dự báo các ảnh hưởng của chúng là hết sức khó khăn. Mỗi doanh nghiệp cần phải nắm rõ từng nhân tố để phát huy những tác động tích cực, hạn chế mặt tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của mình.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và thuê viết báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số.

Phân Tích Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Thị Trường Trong Nước Và Thị Trường Xuất Khẩu Ngành Thủy Sản Của Các Dn Việt Nam Hiện Nay

CÂU 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NGÀNH THỦY SẢN CỦA CÁC DN VIỆT NAM HIỆN NAY.

Trả lời:

1.NHÂN TỐ BÊN NGOÀI

Các yếu tố bên ngoài luôn có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động kinh doanh

xuất khẩu, từ đó mang lại những tác động tích cực hay tiêu cực, ảnh hưởng không

nhỏ đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu thủy sảnThứ nhất, kinh tế là một yếu tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là thủy sản.Bởi vì, khi nền kinh tế của một thị trường nào đó bị khủng hoảng, thì người dân thường không tiêu thụ nhiều sản phẩm, dù là mặt hàng giá trị cao hay trung bình.Điều này sẽ làm giá trị xuất khẩu giảm, không đạt được kết quả tốt như mong đợi.

  • Yếu tố kinh tế

Nếu một đất nước có nền kinh tế kém phát triển, các chỉ số GDP và GDP theo đầu người thấp thì thu nhập của người dân thường không cao. Không những thế, nếu tỷ

lệ thất nghiệp tại đất nước đó cao thì đời sống người dân sẽ khó khăn và sống tiết kiệm hơn.Do đó, nhu cầu tiêu thụ của người dân sẽ thấp hơn so với các thị trường

khác, hoạt động xuất khẩu cũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Ngoài các nhân tố kinh tế trên, tỷ giá hối đoái cũng là một yếu tố quan trọng cần được nhắc đến.Một khi tỷ giá hối đoái thay đổi cũng tác động rất lớn đến hoạt động xuất khẩu.Nếu tỷ giá hối đoái thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn so với nước nhập khẩu, thì nhà xuất khẩu sẽ có nhiều lợi thế vì giá nguyên vật liệu đầu vào và chi phí nhân công rẻ khiến giá thành sản phẩm tại nước xuất rẻ hơn nước nhập.

  • Yếu tố địa lý-khí hậu

. Tùy theo khí hậu của thị trường xuất khẩu nóng hay lạnh, và tùy theo loại sản phẩm xuất khẩu mà nhà xuất khẩu cần lựa chọn cách thức và nhiệt độ bảo quản sao cho phù hợp.

  • Chính trị-pháp luật

Nếu mối quan hệ quốc tế giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu tốt đẹp, điều này thể hiện rõ thông qua việc nước nhập khẩu dảnh nhiểu ưu đãi cho nước xuất khẩu, thì các doanh nghiệp sẽ dễ dàng xâm nhập thị trường hơn và ngược lại.Đặc biệt, tùy vào

các Hiệp định thương mại mà hai nước đã ký kết mà nhà xuất khẩu được các chế

độ thuế quan hay hạn ngạch khác nhau.Mặt khác, để bảo vệ sản phẩm nội địa, nước

nhập khẩu có thể áp các loại thuế khác như chống bán phá giá, chống trợ cấp hay

các rào cản phi thuế quan.

Ngoài ra, sự khác nhau của pháp luật giữa các nước sẽ dễ gây hiểu lầm, xung đột trong quá trình thực hiện hợp đồng khinh doanh xuất khẩu, cũng như là trong việc giải quyết tranh chấp.Không những thế, tại mỗi thị trường sẽ có các quy định pháp lý khác nhau đối với mỗi mặt hàng riêng biệt. Nếu làm trái các quy định này, thì hàng hóa của nhà xuất khẩu có thể bị trả về hay tịch thu, khiến nhà xuất khẩu tốn kém nhiều chi phí. Do đó, việc tìm hiểu pháp luật khi xuất khẩu qua một thị trường nào đó là một việc vô cùng thiết yếu. Không những thế, nếu tình hình chính trị của một đất nước không ổn định, hay xảy ra các nạn bạo động, đình công, biểu tình, … thì hoạt động xuất khẩu sang nước đó sẽ gặp rất nhiều rủi ro. Hàng hóa có thể bị mất mát, thất lạc, hư hỏng hay không tiêu thụ được.

  • Văn hóa

Văn hóa sẽ quyết định xu hướng tiêu dùng của người dân, và thái độ của khách hàng đối với sản phẩm, mà văn hóa ở mỗi quốc gia đều rất phong phú và đa dạng. Do đó, tìm hiểu văn hóa của thị trườngxuất khẩu là một hoạt động rất quan trọng, cần được quan tâm và chú trọng nhiều.

  • Nhà cung ứng nguyên vật liệu

Việc chọn nhà cung ứng sẽ liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm, chất lượng sản phẩm và tính đều đặn trong quá trình sản xuất. Vì vậy, doanh nghiệp nên lựa chọn những nhà cung ứng có uy tín cao để tránh các trường hợp rủi ro có thể xảy ra.

khách hàng

  • Khách hàng

là người tiêu thụ sản phẩm, do đó doanh nghiệp phải tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của họ một cách tốt nhất. Từ đó, định hướng phát triển sản phẩm để có thể sản xuất các sản phẩm thích hợp

2: NHÂN TỐ BÊN TRONG

  • Nhân tố con người

nhân tố con người là một yếu tố quyết định đến hiệu quả của công việc.Trong nhân tố này, có hai nhóm yếu tố là năng lực lãnh đạo và quản trị kinh doanh của ban giám đốc và năng lực kinh doanh xuất khẩu của nhân viên.Năng lực lãnh đạovà quản trị kinh doanh tốt sẽ giúp doanh nghiệp có chiến lược phát triển kinh doanh đúng đắn, có thể phát huy các thế mạnh và cơ hội để đạt được kết quả tốt.Trong khi đó, năng lực của nhân viên sẽ quyết định đến tiến trình công việc nhanh hay chậm, hiệu quả hay không và có gặp phải các sai sót trong quá trình làm việc không.

  • Tài chính

tài chính của một doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng.Tài chính phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động để kinh doanh. Tiềm lực tài chính càng lớn càng giúp cho hoạt động kinh doanh thuận lợi và chống đỡ được những rủi ro do biến động thị trường.

  • Máy móc, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ

máy móc, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ là một trong những yếu tố quyết định năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm. Công nghệ, kỹ thuật máy móc càng tiên tiến, thì năng suất càng cao, chất lượng càng tốt, sản phẩm ít bị lỗi hơn.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số.

Thực trạng “chảy máu chất xám” của các DN Việt Nam hiện nay như thế nào? Ví dụ minh họa

Thực trạng “chảy máu chất xám” của các DN Việt Nam hiện nay như thế nào? Ví dụ minh họa

Nhiều năm qua, “chảy máu chất xám” được coi là một hiện tượng phức tạp, buộc nhiều quốc gia cần xem xét và điều chỉnh, từ đó có chính sách, biện pháp khắc phục. Bởi, dù thế nào thì trong thế giới hiện đại, sự phát triển của mỗi quốc gia luôn cần tới vai trò của tri thức, trí tuệ. Tuy nhiên, do cơ chế trả lương và đãi ngộ quá bất cập mà Việt Nam đang phải… chấp nhận tình trạng chảy máu chất xám hằng ngày, hằng giờ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho biết, hiện có trên 3 vạn lưu học sinh du học theo các con đường: Hiệp định giữa hai chính phủ, với học bổng của các tổ chức nước ngoài, học bổng của chính phủ trong khuôn khổ đề án đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật của các cơ sở nước ngoài bằng nguồn ngân sách Nhà nước và du học tự túc. Với Đề án 322, từ năm 2011 đến 2015, Việt Nam đã chi hơn 2.500 tỉ đồng cho khoảng 3.000 cán bộ, giảng viên đi nước ngoài học tập; và trong số 2.268 người được đưa đi đào tạo tiến sĩ, thì chỉ có 1.074 tiến sĩ về nước. Chi phí bình quân cho mỗi du học sinh theo đề án này là khoảng 22.000USD/năm. Như vậy, trong 10 năm Nhà nước phải chi cho mỗi người là 220.000USD, tức gần 4,4 tỉ đồng.

Thống kê của Bộ GD&ĐT cho biết số lượng du học sinh Việt Nam ở nước ngoài ngày càng tăng, theo đó, năm học 2016-2017 có 98.536 người, năm học 2015-2017 có 106.104 học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập. Như vậy, nếu tính một suất du học tốn tối thiểu 10.000-15.000USD (có thể cao hơn) thì mỗi năm Việt Nam chuyển ra nước ngoài 1-1,5 tỉ USD. Dù vậy, nhưng hiện nay, Bộ GD&ĐT cũng chỉ nắm được con số du học sinh đi theo Đề án 322, với 120 du học sinh đã tốt nghiệp trở về nước. Số còn lại, do cá nhân học sinh, sinh viên tự liên hệ, không thông qua Bộ GD&ĐT nên khó nắm được con số đi cũng như số trở về và đến nay cũng chưa có một điều tra nào về thực trạng việc làm của những du học sinh, sau khi tốt nghiệp các trường đại học nước ngoài trở về.

Nhiều người đi học ở nước ngoài về vẫn phải tự thân vận động, tự bỏ tiền túi để nghiên cứu khoa học, một phần do thủ tục hành chính, chế độ, chính sách chưa thỏa đáng. Họ không về do hệ thống nghiên cứu khoa học trong nước chưa đủ hấp dẫn cho người có tài làm việc trong nước, chưa đủ mức tin cậy cho những nhà khoa học trẻ thấy rằng, mình làm trong nước có thể tiến bộ và cống hiến được như nước ngoài. Chúng ta cần chú trọng đội ngũ trí thức trong nước ở các viện khoa học, các trường đại học, các tổ chức… Có một điểm không thể thiếu được là chú trọng kêu gọi những nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài trở về nước hợp tác, cộng tác thường xuyên để có sự gắn bó, hợp tác. Nhà nước không cần có một chính sách gì quá đặc biệt với trí thức Việt kiều mà hãy tập trung vào những chính sách tốt cho trí thức trong nước”.

Ví dụ

Là á quân của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” năm đầu tiên, năm 2002, Nguyễn Thành Vinh có học bổng sang Australia du học ngành hóa học tại Đại học New South Wales tại Sydney. Kết thúc chương trình cử nhân, Vinh tiếp tục chương trình tiến sĩ về hóa hữu cơ tại Đại học Quốc gia Australia (ANU). Phản ứng trước con số 70% du học sinh Việt Nam không trở về nước sau khi tốt nghiệp, Vinh nói: “Nếu 30% quay trở về làm đất nước phát triển rực rỡ thì thế đã là quá đủ. 70% nữa quay trở về chỉ làm môi trường thêm chật chội. Nếu 30% đã quay về chẳng làm được gì hết thì 70% nữa quay về liệu có làm được gì không? “.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số.

Phân tích thực trạng công tác đánh giá thi đua hiện nay tại công ty sản xuất kinh doanh nói chung

Câu 4: Phân tích thực trạng công tác đánh giá thi đua hiện nay tại công ty sản xuất kinh doanh nói chung?

Nhìn chung, hiện nay các công ty sản xuất kinh doanh đã và đang ngày càng quan tâm hơn tới công tác đánh giá thi đua nhằm khen thưởng kịp thời, đúng lúc với nhân viên trong doanh nghiệp của mình. Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng cho mình quy trình đánh giá thi đua đảm bảo tính minh bạch, công khai, trưng cầu ý kiến của người lao động sau mỗi đợt đánh giá thi đua. Các phong trào thi đua về cơ bản đã biểu dương kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích tiên tiến.

Tuy nhiên, ở một số doanh nghiệp vẫn còn hiện tượng đánh giá thi đua không theo chỉ tiêu rõ ràng mà chỉ khen thưởng theo cấp bậc, những người có bằng cấp cao, có vị thế thì được nhận những phần thưởng cao, trong khi đó những người có thành tích cao lại không được quan tâm đến. Nhiều khi vấn đề khen thưởng chỉ mang tính chất vật chất, hình thức mà không quan tâm đến tinh thần của người lao động. Làm cho khen thưởng trở thành một vấn đề bàn luận trong người lao động, đôi khi làm cho tập thể mất đoàn kết. Có tình trạng cùng với nó là hiện tượng dìm người khác để giành vị thế về cho mình, hiện tượng trù dập người lao động làm cho người lao động thiếu lòng tin vào tổ chức. Kết quả là việc thi đua không những không tạo động lực cho người lao động mà còn làm cho động lực của họ bị giảm sút. Làm cho họ có tâm trạng sợ phải tham gia các phong trào thi đua khác vì họ sợ phải ganh đua, tranh giành trong thi đua. Nói chung nhận thức về thi đua, khen thưởng có nơi có lúc còn chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, phong trào thi đua chưa được sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo, công đoàn, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa người lao động và nhà quản lý, giữa bộ phận thi đua với các ngành khác có liên quan.

Tuy có những hạn chế nêu trên nhưng ta không thể phủ nhận mặt tích cực của phong trào thi đua, không thể phủ nhận được sự tác động to lớn của thi đua tới hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp và hiệu quả của công tác đánh giá thi đua trong các doanh nghiệp. Đặc biệt nhiều doanh nghiệp nhờ thực hiện tốt việc triển khai và đánh giá thi đua đã giúp cho doanh nghiệp có vị thế lớn trên thị 21 trường như: hệ thống ngân hàng thương mại nhờ có những phong trào thi đua, có những hình thức khen thưởng thỏa đáng, đặc biệt là đã nhận thức được đúng đắn việc lấy công tác thi đua khen thưởng làm động lực thúc đẩy trong công việc mà ngân hàng đã có những thành công lớn. Các phong trào như: chào mừng ngày thành lập ngân hàng 6/5, phong trào thi đua phụ nữ hai giỏi – giỏi việc ngân hàng, đảm việc nhà, nghiệp vụ ngân hàng… Kết quả là đã có rất nhiều thành tích tiêu biểu của các cá nhân, tập thể, các chiến sĩ thi đua, các điển hình tiên tiến góp phần vào sự lớn mạnh của ngành ngân hàng. Hay như tổng công ty điện lực với việc tổ chức phong trào thi đua tổ sản xuất giỏi, ca vận hành an toàn, kinh tế, mỗi một nhà máy sẽ tổ chức thi đua nước rút để chọn ra những cá nhân điển hình… Nhờ vậy ngành điện đã đạt được những thành tựu đáng kể về công nghệ, về nguồn nhân lực, về an toàn lao động và đảm bảo cung cấp đủ nguồn điện cho cả nước. Công ty đã có trạm 220-500KV kiểu mẫu. Góp phần vào những thành tựu chung, công ty bia Việt Hà (Hà Nội) nhờ có thi đua mà từ một đơn vị trên bờ vực phá sản đã trở thành một trong những đơn vị dẫn đầu ngành công nghiệp Hà Nội. Hơn 10 năm đạt tốc độ tăng trưởng 20-45% /năm, năm 2005 doanh thu công ty đạt 82 tỷ đồng, nộp ngân sách 23 tỷ đồng và thu nhập bình quân 2 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra công ty còn có hàng trăm sáng kiến làm lợi gần 20 tỷ.

Tóm lại, dù có những hạn chế nhất định nhưng cách đánh giá thi đua trong các doanh nghiệp hiện nay ngày càng hoàn thiện với nhiều nội dung phong phú. Đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số.

Phân tích thực trạng kinh doanh của các Công ty trong lĩnh vực văn phòng phẩm tại  Việt Nam hiện nay. Các DN có khó khăn và thuận lợi gì? 

Đề bài: Phân tích thực trạng kinh doanh của các Công ty trong lĩnh vực văn phòng phẩm tại  Việt Nam hiện nay. Các DN có khó khăn và thuận lợi gì? 

Thực trạng kinh doanh của các công ty trong lĩnh vực văn phỏng phẩm tại Việt Nam.

Thị trường kinh doanh văn phòng phẩm như một cuộc chạy đua âm thầm nhưng đầy cạnh tranh, bên cạnh các cửa hàng, đại lý văn phòng phẩm mới bắt đầu thâm nhập thị trường, nhiều cửa hàng cũ đã đầu tư mở rộng mặt bằng kinh doanh, sửa sang lại quầy hàng, tăng cường chủng loại, đa dạng mẫu mã hàng hóa… để tăng tính cạnh tranh so với đối thủ.

Có thể nói ngành sản xuất văn phòng phẩm ở Việt Nam đã phát triển từ khá lâu. Chúng ta đã có những thương hiệu văn phòng phẩm nổi tiếng hư bút bi Thiên Long, giấy in Hồng Hà, Bến Nghé. Những thương hiệu này đểu đã có chỗ đứng trong thị trường văn phòng phẩm trong cả nước. Thiên Long được người tiêu dùng biết đến như là công ty chuyên sản xuất đồ dùng học sinh. Trong đó, bút viết là những mặt hàng văn phòng phẩm được tiêu thụ mạnh. Bút viết Thiên Long có rất nhiều loại từ bút mực, bút chì, bút bi, bút lông,… Bút Thiên Long có chất lượng rất tốt, mẫu mã đẹp mắt. Hiện nay, bút viết Thiên Long đã có mặt ở hầu hết các cửa hàng văn phòng phẩm, nhà sách, siêu thị,… Đây là một trong những thương hiệu lớn và uy tín hàng đầu của ngành sản xuất văn phòng phẩm.

Thế mạnh của văn phòng phẩm nội địa là chất lượng khá tốt. Những sản phẩm như bút bi Thiên Long hay giấy Hồng Hà đều được đánh giá cao. Có thể nói, ưu thế về chất lượng đã giúp những công ty này tạo nên thương hiệu của họ. Giá thành của những mặt hàng văn phòng phẩm nội địa cũng rất hợp lý. Phù hợp với mức chi tiêu của các đối tượng là học sinh, sinh viên và dân văn phòng.

Mặt khác, do được sản xuất trong nước nên việc vận chuyển cũng dễ dàng hơn. Hệ thống phân phối cũng được phát triển mạnh. Do đó, các sản phẩm nội địa ngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng. Có thể thấy, các mặt hàng văn phòng phẩm nội địa đang dần chiếm lại thị phần.

Một số khó khăn và thuận lợi mà các doanh nghiệp phải đối mặt đó là:

Thách thức:

– Những mặt hàng văn phòng phẩm của Trung Quốc có mẫu mã đa dạng, chủng loại phong phú. Văn phòng phẩm nhập khẩu có đầy đủ các mặt hàng cần thiết như giấy, bút, mực,… Mẫu mã của những mặt hàng văn phòng phẩm nhập khẩu rất đa dạng. Phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong nước. Do đo cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp hàng văn phỏng phẩm nội địa.

– Các mặt hàng văn phòng phẩm nhập khẩu thường có giá khá rẻ. Đặc biệt là những mặt hàng văn phòng phẩm từ Trung Quốc. Do đó, các công ty sử dụng văn phòng phẩm với số lượng lớn thường chọn những mặt hàng này. Các cửa hàng và đại lý văn phòng phẩm cũng vì lợi ích kinh tế mà lựa chọn các sản phẩm này. Điều này ngược lại gây khó khăn cho các công ty kinh doanh các sản phẩm văn phỏng được sản xuất trong nước

-Hàng nhái, hàng giả tràn ngập trên thị trường và chưa được kiểm soát tốt từ các cơ quan chức năng. Điều này khiến cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, có nguồn hàng rõ ràng phải chịu thiệt thòi khi có sự cạnh tranh không lành mạnh từ hàng giả, hàng nhái trên thị trường.

Thuận lợi:

–  Tại Việt Nam hệ thống các siêu thị vẫn còn yếu chưa thể phục vụ hết nhu cầu của người tiêu dùng, chúng ta vẫn còn duy trì cách buôn bán truyền thống đó là buôn bán nhỏ và lẻ, các khu chợ cóc, chợ nhỏ vẫn còn tồn tại. Cùng với đó là tâm lý tiêu dùng của người Việt Nam, họ ngại khi đi đến các siêu thị hay các đại lý lớn chỉ để mua một vài sản phẩm nhỏ, lẻ, giá trị thấp. Tâm lý ngại ra đường, ngại đi xa để mua hàng hay ngán ngẩm với cảnh phải xếp hàng để chờ đến lượt thanh toán. Chúng ta không có thói quen mua đồ về tích trữ trong nhà để có thể sử dụng trong nhiều ngày. Đó chính là những lý do chủ yếu để các cửa hàng bán lẻ vẫn còn tồn tại.

Hiện nay số trẻ em đến độ tuổi đến trường rất đông và ngày càng tăng, nhu cầu sử dụng văn phòng phẩm ngày càng cao. Có rất nhiều trường được mở và dân số cả nước có dự đoán sẽ tăng cao trong những năm tới.

Nền kinh tế của Việt nam đang trong thời kỳ phát triển, tốc độ phát triển vãn còn khá cao. Quy định về thành lập doanh nghiệp hay mở công ty mới tương đối thuận lợi dẫn đến số lượng các công ty tăng lên rất nhanh. Xu hướng hiện nay là các doanh nghiệp dịch vụ sẽ phát triển nhanh và dần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập quốc dân.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số

Thực trạng xuất khẩu mặt hàng thực phẩm ra thị trường nước ngoài của các DN Việt Nam hiện nay. Các DN Việt Nam cần chú trọng vấn đề gì để xuất khẩu thành công?

ĐỀ BÀI: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG THỰC PHẨM RA THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DN VIỆT NAM HIỆN NAY. CÁC DN VIỆT NAM CẦN CHÚ TRỌNG VẤN ĐỀ GÌ ĐỂ XUẤT KHẨU THÀNH CÔNG?

            Thực trạng xuất khẩu mặt hàng thực phẩm ra thị trường nước ngoài của các Doanh nghiệp Việt Nam

Thực phẩm xuất khẩu thường gặp những vấn đề sau:

  •             – Hàm lượng quá cao và sử dụng không đúng cách bao gồm chất phụ gia (saccharin, sodium cyclamate, chất son tạo màu, sulfur); thuốc trừ sâu; chất kháng sinh; và kim loại nặng.
  •             – Việc sử dụng các chất methanol; hormone tăng trưởng; chất tẩy trắng; chất hóa học Kali Bromate; và vật liệu đóng gói độc hại.
  •             – Gián đoạn quá trình làm lạnh trong khi vận chuyển, lưu trữ cũng như tại trạm kiểm soát hải quan.
  •             – Sự xuất hiện của các loại nấm, mốc trong các sản phẩm.

– Công tác xét nghiệm

  • Kết quả xét nghiệm không đồng nhất;
  • Xét nghiệm tại các phòng thí nghiệm nước ngoài không được chấp nhận; và
  • Các phòng xét nghiệm được chỉ định cho XNK chưa đạt các tiêu chuẩn quốc tế.

– Việc thực thi các quy định của pháp luật và thủ tục hành chính kéo dài

  • Chưa có sự áp dụng và thực thi đồng bộ các quy định ở cấp địa phương và cấp tỉnh thành;
  • Các văn bản được yêu cầu không thể ở nước xuất xứ có hệ thống Truy xuất nguồn gốc tốt tại cơ sở;
  • Các mức phát quá thấp: vẫn đảm bảm có được lợi nhuận nếu tiếp tục vi phạm

–  Việt Nam được xếp hạng cao đối với xuất khẩu:

  • Tiêu đen
  • Hạt điều
  • Cà phê và chè
  • Cá và thủy sản
  • Gạo

– Nhưng, các sản phẩm của Việt Nam trên thế giới:

  • Được nhìn nhận là kém về mặt chất lượng và giá trị
  • Cạnh tranh về giá cả nhưng chưa phải về chất lượng
  • Phần lớn là các mặt hàng đơn giản chưa được tinh chế

Để xuất khẩu thành công các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng những vấn đề sau:

  1. Các nhà xuất khẩu Việt Nam nên hạn chế dư lượng kháng sinh trong hải sản, tìm kiếm thị trường mới.
  2.  Khẳng định lại thương hiệu của mình bằng cách xin cấp phép chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm từ các tổ chức có uy tín trên thế giới về sản phẩm của mình.
  3. Nghiêm túc trong việc thực hiện các nghị đinh, thông tư và quy định trong việc xuất nhập khẩu

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tâm lý mua hàng của người tiêu dùng. Công ty Chip & Chip đã chú trọng đến nhân tố nào trong các nhân tố trên. Minh họa cụ thể.

Tâm lý trong việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động từ nhiều nhân tố: Cảm tính, kiến thức, kinh nghiệm, niềm tin.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số. 

  • – Cảm tính

Khi đi mua sắm đa phần chúng ta đều chưa xác định rõ ràng những thứ mà mình sẽ mua, chỉ đại khái là cần mua loại mặt hàng gì, có đặc tính gì mà thôi. Đôi khi, đứng trước gian hàng với cả trăm sản phẩm khác nhau chúng ta lại lựa chọn thứ khác hẳn thứ trước đó định mua. Vì vậy việc khách hàng mua gì và có mua hay không bạn hoàn toàn có thể tác động dựa vào những lời tiếp thị của mình. Nếu bạn có hiểu biết về sản phẩm lại nhạy cảm trong việc nắm bắt nhu cầu của khách hàng, bạn sẽ hướng được họ tới những gì mình muốn bán.

Sức mạnh của những lời tiếp thị không chỉ để quảng bá mà còn có thể thuyết phục người mua, thế nên hãy tuyển chọn và đào tạo những nhân viên bán hàng xuất sắc, vừa am hiểu về sản phẩm vừa có nghệ thuật tư vấn, thuyết phục người khác.

  • – Kiến thức

Chẳng ai nhìn vào mấy dòng quảng cáo sơ sài, giật tít lại ngay lập tức mua hàng cả, để đến bước đó họ còn phải tìm hiểu tất cả thông tin về sản phẩm, so sánh với sản phẩm khác, đong đếm nhu cầu của mình rồi mới quyết định. Lấy ví dụ đơn giản như khi chọn mua phần mềm quản lý bán hàng, người dùng trước tiên luôn xem xét các tính năng của nó có phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình không, tiếp đến họ sẽ dùng thử để trải nghiệm chất lượng và đánh giá tính xác thực từ các lời quảng bá của bạn, cuối cùng họ mới hỏi giá rồi cân nhắc mua hay không.

Dựa vào đặc điểm tâm lý này bạn cần phải chuẩn bị bảng thông tin chi tiết về sản phẩm kèm hướng dẫn sử dụng, chỉ cần khách hàng có hứng thú sẽ đưa ngay để họ tham khảo, đây là lúc dễ thuyết phục họ nhất.

  • – Kinh nghiệm

Bỏ tiền ra mua một sản phẩm bất kỳ ai cũng không muốn nhận được thứ vô dụng với mình, vì vậy họ sẽ luôn tự hỏi dùng sản phẩm của bạn sẽ mang đến lợi ích gì. Dựa vào những lợi ích thực tế đó khách hàng sẽ so sánh với số tiền mình bỏ ra rồi quyết định. Trong giai đoạn mấu chốt này bạn cần tăng thêm các giá trị đi kèm để tính thuyết phục cao hơn.

Chắc hẳn trước khi đi mua sắm khách hàng đã tham khảo các sản phẩm tương tự tại một số cửa hàng, vì thế khi đến với bạn họ luôn có sự so sánh giá trị trong đầu, rằng sản phẩm này có thật sự tốt hơn ở cửa hàng kia hay không. Đây là lúc họ đang đắn đo, họ sẽ hỏi rất kĩ về những tính năng và giá cả mặt hàng bạn giới thiệu cho họ, vì thế hãy lập tức nêu ra những ưu điểm khiến sản phẩm nổi bật hơn đối thủ trên thị trường. Thành hay bại, bán được hay không chính là ở bước này, họ chỉ chọn bạn nếu bạn cho họ nhiều giá trị hơn.

  • – Niềm tin

Có rất nhiều khách hàng khá cảnh giác với những lời tiếp thị của bạn, họ cho rằng bạn giới thiệu theo kiểu “con hát mẹ khen hay” mà thôi, hoàn toàn là những câu tâng bốc vô nghĩa. Trong trường hợp này, để tạo sự tin tưởng bạn phải đưa ra các bằng chứng thuyết phục, chứng minh sản phẩm của bạn thực sự tốt. Và cách tốt nhất là hãy trích dẫn những lời nhận xét tích cực của khách hàng cũ, người mua sẽ dễ dàng tiếp nhận hơn nhiều. Đây là đặc điểm tâm lý xã hội chung, con người dễ bị tác động của những người có chung các đặc điểm với mình

Trong trường hợp của công ty Chip & Chip, họ đã chú trọng đến nhân tố về kiến thức. Các bà mẹ thường rất thông thái khi lựa chọn các sản phẩm thực phẩm cho con mình. Cụ thể khi mua các bà mẹ có những thắc mắc về việc tại sao những đứa trẻ lại thích sản phẩm Chip Chip đến như vậy liệu rằng thành phần của sản phẩm có đảm bảo cho sức khỏe con trẻ khi sử dụng nhiều sản phẩm không. Để có thể trả lợi câu hỏi đó khi mua các sản phẩm kẹo các bà mẹ lưu ý đến thông tin dinh dưỡng có trong bao bì sản phẩm. Tuy nhiên kết quả không như họ mong đợi, nhãn  hiệu  của  sản phẩm không dễ nhận biết và cách đóng bao vì cũng không có gì là nổi bật khi sản phẩm được trưng bày trong cửa hàng. Như vậy với kiến thức thông thái của mình các mẹ thông thái đã giảm dần sự lựa chọn đối với mặt hàng này cho con của mình là điều rất dễ hiểu

Việc thay đổi của stephen trong tình huống trên thuộc chức năng nào? Nêu nội dung cụ thể liên quan đến chức năng đó

Lời giải: Việc thay đổi của stephen trong tình huống trên thuộc chức năng nào? Nêu nội dung cụ thể liên quan đến chức năng đó

Hoạch định hay còn gọi là lập kế hoạch hoặc kế hoạch hóa kinh doanh gồm nhiều quan niệm khác nhau:

Thứ nhất: Hoạch định là quá trình xác định những mục tiêu của tổ chức và phương thức tốt nhất để đạt được những mục tiêu đó. Như vậy công tác kế hoạch theo nghĩa trên phải bao gồm đồng thời hai quá trình xác định mục tiêu (cái gì cần phải làm?); Xác định con đường đạt đến mục tiêu (làm cái đó như thế nào?).

Thứ hai: Hoạch định là quá trình chuẩn bị đối phó với những thay đổi và tính không chắc chắn bằng việc trù liệu những cách thức hành động trong tương lai. Hai nguyên nhân chính đòi hỏi các nhà quản trị phải tiến hành công việc hoạch định xuất phát từ các nguồn tài nguyên hạn chế và sự biến động thường xuyên của môi trường bên ngoài.

Tóm lại: Xét về mặt bản chất, hoạch định là một hoạt động chủ quan, có ý thức, có tổ chức của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan nhằm xác định mục tiêu, phương án, bước đi, trình tự và cách thức tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nét bản chất này là cái phân biệt sự hoạt động có ý thức của con người với sự hoạt động theo bản năng của loài vật. Do đó, hoạch định là yêu cầu của chính quá trình lao động của con người và gắn liền với quá trình đó.

Đối với công ty Chip & Chip, ông Stephen đã thực hiện.

Mọi người muốn nhận lời giải các khóa trước, lời giải đề án tốt nghiệp đầy đủ thì liên hệ qua sđt và  zalo: 0973287149. Nếu anh chị nào có nhu cầu đặt làm đề án tốt nghiệp và viết thuê báo cáo thực tập TOPICA liên hệ với mình luôn nhé, đảm bảo bài mới hoàn toàn không bị trùng lặp, các anh chị nhắn cho mình qua zalo, đảm bảo kết quả điểm số. 

  • Hoạch định chiến lược sản xuất

Công ty lên kế hoạch thực hiện thay đổi lại nguyên liệu sản xuất sản phẩm theo  hướng thị trường ưa thích đó là quay lại sử dụng chất liệu thiên nhiên toàn bộ. Bên cạnh đó công ty cũng có kế hoạch cải tiến mẫu mã sản phẩm ể làm cho sản phẩm của mình trở nên nổi bật hơn so với đối thủ và tạo dòng chữ “100% hương vị và phẩm màu tự nhiên”. Bao bì mới của sản phẩm đã thể hiện những thông tin về đặc tính của sản phẩm, góp phần thể hiện rõ nguồn gốc, các thông số dinh dưỡng, thành phần nguyên liệu. Từ đó tăng cơ sở niềm tin của khách hàng cho sản phẩm của công ty.

  • Hoạch định chiến lược marketing

Vào cuối năm 2015, công ty đã sử dụng 400.000 USD cho quảng cáo trong hai tháng để hỗ trợ tạo dựng hình ảnh mới về sản phẩm và đã tăng được thị phần lên 25%. Công ty tiếp tục quảng cáo trên tivi để thu hút phụ nữ họ mua sản phẩm cho chính họ và cho những đứa trẻ của mình. Công ty Chip & Chip đã bán được 1,8 triệu USD sản phẩm tự nhiên, vào năm 2016 doanh thu của công ty tăng lên 16 triệu USD và thị phần của công ty đã tăng lên 35% về sản phẩm kẹo jelly (kẹo dẻo). Thành công của chiến lược marketing đã được thể hiện rõ ràng thông qua keetsd quả kinh doanh của công ty.