Giải Quyết Tranh Chấp Kinh Tế, Thương Mại Tại Tòa Án Nhân Dân Abc

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN ABC

1.1.Lý do chọn đề tài BÁO CÁO THỰC TẬP

Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển đa dạng và phức tạp thì những xung đột về lợi ích các cá nhân với nhau; giữa các cá nhân với pháp nhân hay giữa các pháp nhân với nhau càng phức tạp về nội dung và gay gat về múc độ. Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh doanh, thương mại thì các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh thương mại xảy ra càng nhiều, đó là quy Luật tất yếu khách quan. Tính chất và nội dung của các quan hệ kinh doanh thương mại tác động manh me đến tranh chấp kinh doanh thương mại. sự phát triển của nền kinh tế tạo ra sự hình thành những phương thức giải quyết tranh chấp. Hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Một cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thuận lợi, minh bắch là nhân to quan trọng trong việc xây dụng môi trường kinh doanh lành manh cho sự phát triển của nền kinh tế.

Để đáp ứng việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng tư pháp, sự ra đời của bộ luật tố tụng dân sự 2004, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của bộ Luật tố tụng dân sự năm 2011; Luật thương mại 2005 đã đánh dấu bưóc phát triển mới trong lịch sử pháp Luật tố tụng dân sự. Hệ thống pháp Luật này tạo ra hành lang pháp lý, đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được nhanh chóng, kịp thời, các phán quyết của Tòa án được đảm bảo thực hiện một cách kịp thời, nghiêm minh.

Tuy vậy, qua một thời gian áp dụng, bộ Luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 đã bộc lộ những vướng mắc nhat là việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tư pháp. Do vậy, bộ Luật tố tụng dân sự 2015 (có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016) ra đời nhằm khắc phục những hạn chế trong pháp Luật về tố tụng dân sự qua đó gián tiep nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại theo thủ tục tố tụng bằng Tòa án. Việc thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại phù hop với nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập và phát triển là một vấn đề rất quan trọng cần được tiep tực nghiên cứu để hoàn thiện pháp Luật tố tụng và pháp Luật liên quan. Việc áp dụng quy định của pháp Luật tại các tòa án địa phương cũng nảy sinh nhiều vấn đề cần phải làm rõ.

Vì những lý do trên, em xin chọn đề tài báo cáo thực tập: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại tòa án nhân dân ABC” làm bài báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nhiệm vụ của để tài là làm sáng to những vấn đề lý luận về tranh chấp thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại; xác định được vị trí, vai trò của tòa án trong giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay; đánh giá một cách toàn diện, khách quan thục trằng pháp Luật và nguyên tắc áp dụng pháp Luật trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án kinh doanh thương mại; phân tích làm rõ những vướng mắc của pháp Luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại thông qua những vụ án trong thực tiễn qua đó đưa ra một số để xuất nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án nhân dân nói chung và hệ thống các cấp tòa ở tỉnh Bình Thuận nói riêng.

1.3. Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại

Phạm vi nghiên cứu: tại tòa án nhân dân ABC

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo sử dụng các phương pháp phân tích, số sánh, tổng hợp để giải quyết những vấn đề được đề cập trong để tài.

1.5. Kết cấu chuyên đề

Gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại tòa án
  • Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại tòa án nhân dân ABC
  • Chương 3: Một số giải pháp giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại tòa án nhân dân ABC

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Giải Quyết Tranh Chấp Kinh Tế, Thương Mại Tại Tòa Án Nhân Dân Abc

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tàI Giải Quyết Tranh Chấp Kinh Tế, Thương Mại Tại Tòa Án Nhân Dân Abci các bạn có thể liên hệ với mình nhé! 

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần người viết báo cáo thực tập thuê  có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

171 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp Ngành Luật Hiến pháp

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP

  1. Chủ nghĩa Hiến pháp.
  2. Chủ nghĩa Dân túy
  3. Pháp quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước
  4. Pháp quyền và quyền con người
  5. Phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước
  6. Phân quyền trong nhà nước pháp quyền
  7. Phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước
  8. Phân quyền và nhân quyền
  9. Kiểm soát quyền lực nhà nước (nghiên cứu cụ thể về các phương thức kiểm soát quyền lực cụ thể như: các hình thức giám sát bên trong; các hình thức giám sát bên ngoài).
  10. Kiểm soát quyền lực ở địa phương
  11. Mối quan hệ giữa Chủ nghĩa Hiến pháp và Hiến pháp
  12. Mối quan hệ giữa Chủ nghĩa Hiến pháp, bảo hiến và quyền con người
  13. Mối quan hệ giữa Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền
  14. Bảo hiến và bảo vệ quyền con người
  15. Hiến pháp và vấn đề giới hạn quyền con người
  16. Hiến pháp và vấn đề chống tham nhũng.
  17. Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp
  18. Mối quan hệ giữa lập pháp và tư pháp
  19. Mối quan hệ giữa hành pháp và tư pháp
  20. Quyền lập pháp: Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  21. Quốc hội trong nhà nước pháp quyền
  22. Quyền hành pháp: Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  23. Chính phủ trong nhà nước pháp quyền
  24. Quyền tư pháp: Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  25. Tòa án trong nhà nước pháp quyền
  26. Tòa án và vấn đề bảo vệ quyền con người
  27. Quyền tư pháp và vấn đề bảo vệ quyền con người
  28. Độc lập tư pháp: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  29. Trách nhiệm giải trình tư pháp: những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  30. Mối quan hệ giữa độc lập tư pháp và trách nhiệm giải trình: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  31. Liêm chính tư pháp: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  32. Tiếp cận công lý: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  33. Suy đoán vô tội nhằm đảm bảo trách nhiệm tư pháp và quyền con người, quyền công dân
  34. Tư pháp phục hồi: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  35. Tư pháp với người chưa thành niên: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  36. Quyền công tố: Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  37. Vi phạm hiến pháp và vấn đề bảo vệ hiến pháp
  38. Bảo hiến ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam
  39. Xây dựng cơ chế bảo hiến ở Việt Nam
  40. Xây dựng Hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam
  41. Phát huy vai trò bảo hiến của Tòa án nhân dân
  42. Sửa đổi Hiến pháp: Những vấn đề lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  43. Cải cách Hiến pháp ở một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam
  44. Quản trị tốt: Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  45. Chủ quyền nhân dân: Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam
  46. Dân chủ trực tiếp
  47. Dân chủ đại diện
  48. Bầu cử ở Việt Nam
  49. Chức năng đại diện của Quốc hội
  50. Chức năng đại diện của Hội đồng nhân dân
  51. Dân chủ ở cấp địa phương
  52. Công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực thi quyền lực nhà nước (hoặc trong từng lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp, chính quyền địa phương)
  53. Hiến pháp năm 1946 (và các bản Hiến pháp khác: Hiến pháp 1959, 1980, 1992, Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001, Hiến pháp 2013) và những giá trị, tác động của nó)
  54. Chế định về chế độ chính trị trong Hiến pháp năm 2013
  55. Chủ quyền nhân dân trong Hiến pháp năm 2013
  56. Vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp năm 2013
  57. Chính sách đối ngoại trong Hiến pháp năm 2013
  58. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và các tổ chức xã hội trong Hiến pháp năm 2013
  59. Chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013
  60. Quy định về Kinh tế, Xã hội, Văn hóa, Giáo dục, Khoa học, Công nghệ và Môi trường trong Hiến pháp năm 2013
  61. Chế định về Bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp năm 2013
  62. Chế định về Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013
  63. Ủy ban Thường vụ Quốc Hội theo Hiến pháp năm 2013
  64. Chế định về Chủ tịch Nước trong Hiến pháp năm 2013
  65. Chế định về Chính phủ trong Hiến pháp năm 2013
  66. Thực hiện quy định về dân chủ trực tiếp trong Hiến pháp năm 2013
  67. Thủ tướng Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013
  68. Quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 2013
  69. Cải cách tư pháp theo Hiến pháp năm 2013
  70. Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013
  71. Viện kiểm sát nhân dân trong trong Hiến pháp năm 2013
  72. Hội đồng Bầu cử Quốc gia theo Hiến pháp năm 2013
  73. Kiểm toán Nhà nước theo Hiến pháp năm 2013
  74. Chế định về chính quyền địa phương trong Hiến pháp năm 2013
  75. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  76. Sự phát triển của chủ nghĩa hiến pháp ở Việt Nam cho đến Hiến pháp năm 2013
  77. Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam: Nhận thức, triển vọng và thách thức nhìn từ Hiến pháp năm 2013
  78. Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp năm 2013
  79. Cải cách bộ máy nhà nước ở trung ương theo Hiến pháp năm 2013
  80. Cải cách bộ máy nhà nước ở địa phương theo Hiến pháp năm 2013
  81. Quyền giám sát của nhân dân với bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013
  82. Vấn đề bảo vệ môi trường trong Hiến pháp năm 2013
  83. Viện Kiểm sát và vấn đề bảo vệ quyền con người
  84. Vai trò và chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
  85. Các thể chế hiến định hiện đại trong Hiến pháp năm 2013
  86. Kiểm soát quyền lực của chính quyền địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  87. Kiểm soát quyền lực của trung ương đối với chính quyền địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  88. Quyền giám sát của nhân dân đối với chính quyền địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  89. Thực hiện nguyên tắc pháp quyền ở địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  90. Kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp ở địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  91. Phân định thẩm quyền giữa trung ương và chính quyền địa phương cấp tỉnh, từ thực tiễn (tên địa phương)
  92. Phân định thẩm quyền giữa chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp huyện, từ thực tiễn (tên địa phương)
  93. Phân định thẩm quyền giữa chính quyền địa phương cấp huyện và cấp xã, từ thực tiễn (tên địa phương)
  94. Mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền địa phương, từ thực tiễn (tên địa phương)
  95. Mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, từ thực tiễn (tên địa phương)
  96. Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, từ thực tiễn (tên địa phương)
  97. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh  (gắn với địa danh cụ thể)
  98. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã (gắn với địa sanh cụ thể)
  99. Giám sát của HĐND huyện (gắn địa danh cụ thể)
  100. Tổ chức và hoạt động của UBND tỉnh (gắn với một địa danh cụ thể)
  101. Quy trình làm hiến pháp, sửa đổi hiến pháp và hiệu lực của hiến pháp theo Hiến pháp năm 2013
  102. Thi hành các quy định về chế độ chính trị trong Hiến pháp năm 2013
  103. Thi hành quy định về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong Hiến pháp năm 2013
  104. Thi hành quy định về nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân trong Hiến pháp năm 2013
  105. Thi hành quy định về phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Hiến pháp 2013 [Có thể tách ra thành các chuyên đề nhỏ hơn về phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực].
  106. Thi hành quy định về bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Hiến pháp 2013 (Điều 3)
  107. Thi hành quy định về nghĩa vụ của Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 (Điều 3)
  108. Thi hành quy định về vị trí, vai trò, nghĩa vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp 2013 (Điều 4)
  109. Thi hành quy định về bình đẳng, đoàn kết dân tộc trong Hiến pháp 2013 (Điều 5)
  110. Thi hành quy định về dân chủ trực tiếp trong Hiến pháp 2013 (Điều 6)
  111. Thi hành quy định về dân chủ đại diện trong Hiến pháp 2013 (Điều 6)
  112. Thi hành quy định về bầu cử trong Hiến pháp 2013 (Điều 7)
  113. Thi hành quy định về bãi nhiệm Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp 2013 (Điều 7)
  114. Thi hành quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước trong Hiến pháp 2013 (Điều 8)
  115. Thi hành quy định về nghĩa vụ tôn trọng, phục vụ Nhân dân của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước trong Hiến pháp 2013 (Điều 8)
  116. Thi hành quy định về nghĩa vụ đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước trong Hiến pháp 2013 (Điều 8)
  117. Thi hành quy định về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên trong Hiến pháp 2013 (Điều 9)
  118. Thi hành quy định về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam và các tổ chức thành viên trong Hiến pháp 2013 (Điều 10)
  119. Thi hành quy định về đường lối đối ngoại của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong Hiến pháp 2013 (Điều 12)
  120. Thi hành các quy định về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường trong Hiến pháp 2013 (Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường). (có thể là quá lớn vì gồm nhiều nội dung)
  121. Thi hành các quy định về chế độ kinh tế trong Hiến pháp 2013.
  122. Thi hành các quy định về chính sách văn hoá, trong Hiến pháp 2013
  123. Thi hành các quy định về chính sách xã hội trong Hiến pháp 2013
  124. Thi hành các quy định về chính sách giáo dục trong Hiến pháp 2013
  125. Thi hành các quy định về chính sách khoa học công nghệ trong Hiến pháp 2013
  126. Thi hành các quy định về chính sách môi trường trong Hiến pháp 2013
  127. Thi hành các quy định về bảo vệ Tổ quốc trong Hiến pháp 2013
  128. Thi hành các quy định về chính sách quốc phòng toàn dân trong Hiến pháp 2013
  129. Thi hành các quy định về chính sách an ninh nhân dân trong Hiến pháp 2013
  130. Thi hành các quy định về Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  131. Thi hành các quy định về tổ chức của Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  132. Thi hành các quy định về chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  133. Thi hành các quy định về quyền lập pháp của Quốc Hội trong Hiến pháp 2013.
  134. Thi hành các quy định về chức năng giám sát của Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  135. Thi hành các quy định về chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  136. Thi hành các quy định về Ủy ban thường vụ Quốc hôi trong Hiến pháp 2013
  137. Thi hành các quy định về Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  138. Thi hành các quy định về Đại biểu Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  139. Thi hành các quy định về phiên họp Quốc Hội trong Hiến pháp 2013
  140. Thi hành các quy định về Chủ tịch nước trong Hiến pháp 2013
  141. Thi hành các quy định về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Chủ tịch nước trong Hiến pháp 2013
  142. Thi hành các quy định về mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan nhà nước khác ở trung ương trong Hiến pháp 2013
  143. Thi hành các quy định về Chính phủ trong Hiến pháp 2013 (Chương VII: Chính phủ)
  144. Thi hành các quy định về tổ chức Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  145. Thi hành quy đinh về quyền hành pháp của Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  146. Thi hành các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn xây dựng chính sách của Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  147. Thi hành các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành pháp luật của Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  148. Thi hành các quy định về Thủ tướng Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  149. Thi hành các quy định về Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  150. Thi hành các quy định về Chính phủ trong Hiến pháp 2013
  151. Thi hành các quy định về Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp 2013
  152. Thi hành các quy định về tổ chức của Toà án Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  153. Thi hành các quy đinh về nhiệm vụ của Toà án Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  154. Thi hành quy đinh về quyền tư pháp của Toà án Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  155. Thi hành các quy đinh về xét xử của Toà án Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  156. Thi hành các quy đinh về Toà án Nhân dân Tối cao trong Hiến pháp 2013
  157. Thi hành các quy định về tổ chức của Viện Kiểm sát Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  158. Thi hành các quy đinh về nhiệm vụ của Viện Kiểm sát Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  159. Thi hành các quy đinh về thực hành quyền công tố của Viện Kiểm sát Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  160. Thi hành các quy đinh về thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  161. Thi hành các quy định về chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013
  162. Thi hành các quy định về tổ chức chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013
  163. Thi hành các quy định về đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt trong Hiến pháp 2013
  164. Thi hành các quy định về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính trong Hiến pháp 2013
  165. Thi hành các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013
  166. Thi hành các quy định về phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013
  167. Thi hành các quy định về kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên với chính quyền địa phương trong Hiến pháp 2013
  168. Thi hành các quy định về Hội đồng Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  169. Thi hành các quy định về Uỷ ban Nhân dân trong Hiến pháp 2013
  170. Thi hành các quy định về các thiết chế hiến định độc lập trong Hiến pháp 2013
  171. Thi hành các quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia trong Hiến pháp 2013

171 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Tốt Nghiệp Ngành Luật

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài báo cáo thực tập ngành luật hiến pháp , các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê làm báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Các Giải Pháp Pháp Lý Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Tài Nguyên Rừng

 ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

1.Thực trạng về các quy định pháp luật về quản lý tài nguyên rừng. 

  • 1.1.Quy định pháp luật về bộ máy quản lý tài nguyên rừng.
  • 1.2.Quản lý nhà nước về quy hoạch , kế hoạch bảo vệ rừng.
  • 1.3.Quản lý nhà nước về phòng cháy , chữa cháy rừng.

2.Các quy định pháp luật về quản lý của chủ rừng đối với tài nguyên rừng

  • 2.1.Quản lý tài nguyên rừng của hộ gia đình, cá nhân.
  • 2.2.Quản lý tài nguyên rừng của tổ chức.

3.Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. 

  • 3.1.Đổi mới về tổ chức quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng.
  • 3.2.Tăng cườ ng công tá c kiể m tra, giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng
  • 3.3. Tuyên truyền , phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.
  • 3.4.Tăng cườ ng nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

KẾ T LUẬN.. 

MỞ  ĐẦU

Những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều lĩnh vực như bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng… Điều đó đang là những thách thức to lớn đối với chúng ta. Hiện trạng mất rừng và suy thoái rừng trong thời gian qua đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề đối với môi trường, ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân cũng như sự ổn định nhiều mặt của đất nước. Thực trạng đó tạo ra những thách thức to lớn về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ rừng nói riêng. Mặc dù, diện tích tăng lên đáng kể nhưng những thách thức mà chúng ta phải đối mặt là chất lượng rừng vẫn ngày càng suy giảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng. Tình trạng này do nhiề u n guyên nhân như: sức ép của tăng trưởng kinh tế, sự gia tăng dân số và một số nguyên nhân khác nhưng nguyên nhân chủ yếu là hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng còn thiếu đồng bộ và chưa ổn định, chưa phù hợp với chủ trương xã hội hoá nghề rừng và cơ chế thị trường. Trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất rừng chưa cụ thể, pháp luật chưa tạo ra những “chủ rừng” đích thực vì quyền hưởng lợi từ rừng của những người làm nghề rừng, chưa giúp họ sống được bằng nghề rừng, làm giàu được từ rừng. Trong nhiều năm, các ưu đãi dành cho người quản lý, bảo vệ rừng chủ yếu là từ khai thác lâm sản hay sử dụng một phần diện tích đất rừng để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệ p mà chưa có quy định nào khuyến khích họ gìn giữ, bảo vệ tài nguyên rừng. Vì vậy, chủ thể nào được giao quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cũng tìm cách nhanh chóng khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng phù hợp với các yếu tố kinh tế, xã hội , truyền thống văn hóa và lịch sử.

1.Thực trạng về các quy định pháp luật về quản lý tài nguyên rừng

  • 1.1.Quy định pháp luật về bộ máy quản lý tài nguyên rừng
  • Cơ quan quản lý thẩm quyền chung quản lý tài nguyên rừng

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống cơ quan quản lý nhà nước thẩm quyền chung đối với tài nguyên rừng được phân định như sau:

Hiện nay, Bộ TN&MT quản lý nhà nước về đất, trong đó có đất rừng trên phạm vi toàn quốc còn Bộ NN&PTNT quản lý nhà nước về rừng trên phạm vi toàn quốc. Trong quá trình thẩm định việc giao đất, giao rừng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai bộ này, thậm chí khi xác định các diện tích đất, rừng thuộc vùng trọng yếu về an ninh quốc phòng cần sự phối hợp với Bộ Quốc Phòng, xác định rừng thuộc di tích lịch sử cần sự phối hợp với Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.

Chính phủ và Bộ NN&PTNT ban hành các văn bản dưới luật để điều chỉnh các hành vi có liên quan trong lĩnh vực BV&PTR; quyết định thành l ập các khu rừng quốc gia thuộc thẩm quyền như: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng giống; duyệt quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên rừng và đất rừng; giao rừng, cho thuê các loại rừng thuộc thẩm quyền; cho phép sử dụng các loài thực vật, động vật rừng hoang dã… Thủ tướng Chính phủ chỉ cho phép sử dụng những loài thực vật, động vật hoang dã, quý, hiếm vào việc nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và nhân giống gây nuôi để phát triển.

Ở địa phương, chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của tỉnh mình sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ NN&PTNT và được Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh thông qua; quyết định xác lập các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất ở địa phương theo quy hoạch BV&PTR đã được phê duyệt. UBND cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của UBND cấp huyện. Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật BV&PTR; tổ chức chỉ đạo PCCCR, phòng trừ sâu bệnh hại rừng ở địa phương, chỉ đạo mạng lưới bảo vệ rừng; tổ chức thanh tra, kiểm tra, việc chấp hành pháp luật về BV&PTR trên địa bàn; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BV&PTR theo luật định; giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng rừng và đất rừng giữa tổ chức với tổ chức, tổ chức với cộng đồng dân cư, tổ chức với hộ gia đình, cá nhân.

UBND cấp huyện có rừng triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, chính sách, chế độ nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, khai thác lâm sản theo quy định của pháp luật; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định về giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng; huy động, chỉ đạo các lực lượng trên địa bàn để ngăn chặn mọi hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; tổ chức thực hiện công tác PCCCR, phòng trừ sinh vật hại rừng; tổ chức thực hiện công tác giao rừng, thu hồi rừng và đất lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về rừng và đất lâm nghiệp.

UBND cấp xã có rừng quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng; các hoạt động BV&PTR trên địa bàn; tổ chức việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, phương án BV&PTR trên địa bàn theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện quy hoạch ba loại rừng trên thực địa, quy hoạch chi tiết về BV&PTR gắn với các chủ rừng; tiếp và xác nhận hồ sơ xin giao rừng, thuê rừng và giao đất, thuê đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư theo thẩm quyền; chỉ đạo cộng đồng dân cư thôn xây dựng và thực hiện quy ước BV&PTR trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật; hướng dẫn thực hiện sản xuất lâm nghiệp; canh tác nương rẫy và chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BV&PTR theo luật định …

  • Cơ quan thẩm quyền chuyên môn quản lý tài nguyên rừng cơ quan (Kiểm lâm)

Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp – Bộ NN&PTNT thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm việc thực hiện pháp luật về BV&PTR, quản lý lâm sản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục Lâm nghiệp và giúp Chủ tịch UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về BV&PTR.

Tổ chức kiểm lâm được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thống nhất từ trung ương đến địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ quan kiểm lâm được thành lập ở những địa bàn có rừng hoặc ở các đầu mối giao lưu lâm sản quan trọng, nơi chế biến lâm sản tập trung. Hoạt động của kiểm lâm tuân thủ sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp và chịu sự chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp đối với các hoạt động bảo vệ rừng trên địa bàn.

Trong hoạt động bảo vệ rừng, kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên ngành về NN&PTNT, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và dựa vào sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm vụ được giao.

  • 1.2.Quản lý nhà nước về quy hoạch , kế hoạch bảo vệ rừng

Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng được xem như kim chỉ nam cho hoạt động BV&PTR nói chung, quy hoạch rừng đúng, chính xác, phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội sẽ giúp cho việc thực hiện quy hoạch trong thực tế dễ dàng, cũng như phát huy tối đa hiệu quả của quy hoạch rừng.

Việc quản lý quy hoạch được xem là trung tâm để quản lý nguồn tài nguyên tái tạo hiện đại và là điểm khởi đầu quan trọng cho sự tham gia của các chủ thể và sự minh bạch. Quản lý quy hoạch là yêu cầu phổ biến đối với rừng công cộng. Tuy nhiên, nhiều nơi trên thế giới, yêu cầu này cũng được áp dụng đối với rừng tư nhân

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, kỳ quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng là 10 năm và kỳ kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng là 5 năm, được cụ thể hóa thành kế hoạch BV&PTR hàng năm [58, Điều 16].

Việc lập quy hoạch, kế hoạch BV&PTR phải đảm bảo nguyên tắc là phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước và từng địa phương. Việc lập quy hoạch, kế hoạch BV&PTR phải đảm bảo tính đồng bộ với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tính thống nhất, đồng bộ của các cấp xã, huyện, tỉnh và trên cả nước. Trong trường hợp đặc biệt, nhà nước cần chuyển đổi đất có rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác thì phải có kế hoạch trồng rừng mới để bảo đảm sự phát triển bền vững ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước.

Quy hoạch, kế hoạch BV&PTR phải bảo đảm khai thác, sử dụng tiết kiệm, bền vững, có hiệu quả tài nguyên rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh… Quy hoạch kế hoạch BV&PTR phải được lập và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, quyết định trong năm cuối kỳ quy hoạch, kế hoạch trước đó. Nhìn vào tổng thể quy hoạch, kế hoạch BV&PTR chúng ta có thể thấy được các mục tiêu mà nhà nước ưu tiên đạt được thông qua việc bảo vệ rừng. Đó là quy hoạch diện tích rừng và đất rừng cho ba loại rừng – rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất cũng như kế hoạch bảo vệ và phát triển ba loại rừng trên qua từng năm của kỳ kế hoạch.

Vấn đề quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp được cho thuê rừng để phát triển du lịch sinh thái chưa được các văn bản pháp luật của nhà nước đề cập đến. Đây chính là một khoảng trống pháp luật cần được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời bổ sung để quản lý và hướng phát triển du lịch sinh thái rừng bền vững phát huy hiệu quả.

  • 1.3.Quản lý nhà nước về phòng cháy , chữa cháy rừng

Cục Kiểm lâm là cơ quan thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương PCCCR, tổ chức bố trí cán bộ của Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương PCCCR. Cục Kiểm lâm chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp trực thuộc gồm các Trung tâm Kỹ thuật Bảo vệ rừng sối.iI; các Trung tâm này giúp Cục trưởng Cục Kiểm lâm thực hiện nhiệm vụ quản lý, hướng dẫn kỹ thuật, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác PCCCR; tổ chức lực lượng, phối hợp với địa phương ứng cứu, dập tắt những vụ cháy rừng trong vùng có nguy cơ lan rộng vượt quá tầm kiểm soát của địa phương; nghiên cứu, ứng dụng, xây dựng mô hình, tổ chức huấn luyện, chuyển giao kỹ thuật PCCCR cho các Chi cục kiểm lâm, chủ rừng trong vùng; phối hợp với các đơn vị kiểm lâm và lực lượng quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn để tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia PCCCR.

Hạt Kiểm lâm đặt tại các vườn quốc gia trực thuộc Bộ NN&PTNT thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là thanh tra, kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật về rừng trong khu vực rừng do vườn quốc gia quản lý. Tổ chức PCCCR trong khu vực rừng do vườn quản lý hoặc chữa cháy rừng của các chủ rừng khác theo yêu cầu của chính quyền sở tại.

Ở địa phương, thành lập Ban Chỉ huy PCCCR với thành phần là các cơ quan, ban ngành của cấp tỉnh, cấp huyện có liên quan. Xây dựng phương án PCCCR của địa phương; xác định các vùng trọng điểm cháy và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên, đặc biệt, chú ý phối hợp các lực lượng khi có cháy lớn xảy ra và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các chủ rừng thực hiện phương án PCCCR, theo dõi, kiểm tra công tác PCCCR. Các cơ quan này gồm:

Một là văn phòng thường trực Ban chỉ huy PCCCR đặt tại các cơ quan kiểm lâm cùng cấp thực hiện các nhiệm vụ sau: tổ chức xây dựng phương án PCCCR, tăng cường các biện pháp PCCCR trong các tháng cao điểm dễ xảy ra cháy; theo dõi, chỉ đạo, điều hành chính quyền các cấp và chủ rừng thực hiện nghiêm túc phương án PCCCR đã được phê duyệt; tổ chức phối hợp liên ngành trong công tác chữa cháy rừng; trực tiếp tham gia chỉ huy chữa cháy rừng, khi cháy rừng trong tầm kiểm soát của địa phương, trường hợp cháy lớn vượt quá tầm kiểm soát phải đề nghị trung ương chi viện.

Hai là , chi cục kiểm lâm là cơ quan thực hiện nhiệm vụ của Văn phòng Ban chỉ huy PCCCR cấp tỉnh và thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu là thanh tra, kiểm tra công tác PCCCR trong tầm kiểm soát của địa phương. Đây là lực lượng chính trong chỉ huy, hướng dẫn PCCCR. Phòng quản lý, bảo vệ rừng của Chi cục Kiểm lâm tổ chức huấn luyện nghiệp vụ PCCCR cho các đơn vị liên quan và các chủ rừng. Tổ chức tuyên truyền về công tác PCCCR như: xây bảng biển, panô, áp phích, xây dựng các nội dung tuyên truyền phát hành trên các phương tiện thông tin, đại chúng… Kiểm tra, đôn đốc; điều động, chỉ huy việc chữa cháy rừng ở địa phương.

Ba là , hạt kiểm lâm chịu sự quản lý toàn diện của Chi cục kiểm lâm và là cơ quan thực hiện nhiệm vụ của văn phòng Ban chỉ huy PCCCR cấp huyện và thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu là thanh tra, kiểm tra công tác PCCCR trong tầm kiểm soát của địa phương. Đây là lực lượng chính trong chỉ huy, hướng dẫn PCCCR ở cấp huyện; phối hợp với chi cục kiểm lâm tổ chức huấn luyện nghiệp vụ PCCCR cho các đơn vị liên quan và các chủ rừng; tổ đội quần chúng; tổ chức tuyên truyền về công tác PCCCR.

Tổ, đội quần chúng Bảo vệ rừng, PCCCR

Dưới sự chỉ đạo của chính quyền cấp xã và sự hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của kiểm lâm phụ trách địa bàn, từng thôn, xã tổ chức thành lập các tổ, đội quần chúng tình nguyện bảo vệ rừng, PCCCR có nhiệm vụ bảo vệ rừng, phòng cháy rừng và tham gia chữa cháy rừng trên địa bàn.

Lực lượng Quân đội: mỗi Quân khu phân công 01 Tiểu đoàn thuộc Bộ Quốc phòng tham gia vào việc chữa cháy rừng khi có cháy lớn xảy ra vượt quá tầm kiểm soát của địa phương. Tiểu đoàn này được huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy rừng và trang bị thiết bị chuyên dùng, công cụ cần thiết sẵn sàng nhận nhiệm vụ trên địa bàn được phân công. Mỗi Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh phân công 01 Đại đội thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, là đơn vị thường trực tham gia để chữa cháy rừng khi có cháy lớn xảy ra ở địa phương. Đại đội này được huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy rừng và trang thiết bị, công cụ cần thiết sẵn sàng nhận nhiệm vụ trên địa bàn được phân công.

Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy (Sở Công an), khi cháy lớn xảy ra, theo yêu cầu của trưởng ban Chỉ huy PCCCR tỉnh, lãnh đạo Sở Công an điều động lực lượng tham gia chữa cháy rừng. Việc chỉ huy lực lượng Cảnh sát chữa cháy rừng do trưởng ban chỉ huy PCCCR của địa phương và lãnh đạo đơn vị cảnh sát.

Đài truyền hình Việt nam, Đài tiếng nói Việt nam và các cơ quan thông tấn báo chí đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc PCCCR.; nâng cao chất lượng và thời lượng dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trong các tháng mùa khô.

Nhiệm vụ của chủ rừng: trong các diện tích rừng tập trung phải xây dựng hệ thống thông tin liên lạc, kênh mương ngăn lửa, đường ranh cản lửa…, đóng góp kinh phí và thực hiện phương án PCCCR do cơ quan kiểm lâm xây dựng đối với các diện tích rừng phân tán của nhiều chủ rừng. Khi thiết kế trồng rừng tập trung phải thiết kế các công trình phòng cháy rừng được cơ quan kiểm lâm cấp tỉnh thông qua. Trong trồng rừng cần áp dụng các biện pháp lâm sinh để phục vụ cho công tác PCCCR: trồng rừng hỗn giao

2.Các quy định pháp luật về quản lý của chủ rừng đối với tài nguyên rừng

  • 2.1.Quản lý tài nguyên rừng của hộ gia đình , cá nhân

Hiện nay, hộ gia đình, cá nhân là đối tượng được nhà nước ưu tiên, khuyến khích giao, cho thuê rừng để bảo vệ, quản lý và phát triển rừng. Nhà nước phát triển rừng theo hướng “Người làm nghề rừng phải sống và làm giàu được từ rừng”. Vì vậy, nhà nước rất chú trọng tới việc giao rừng, cho thuê rừng cho các hộ gia đình, cá nhân tại địa phương có rừng. Theo số liệu thống kê, hiện nay, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân đang quản lý 22% tổng diện tích rừng và đất rừng trong cả nước, riêng diện tích rừng và đất rừng sản xuất, hộ gia đình, cá nhân đang quản lý 1.808.005 ha.

Bên cạnh việc thực hiện các trách nhiệm quản lý rừng, hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng và thời hạn giao đất, cho thuê đất; được sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý rừng (trừ rừng đặc dụng). Hộ gia đì nh , cá nhân được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất được giao, được thuê; bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng.

Ngoài ra, tuỳ thuộc vào loại rừng được giao hay được cho thuê hoặc diện tích rừng được sở hữu hay được sử dụng mà hộ gia đình, cá nhân có các quyền và trách nhiệm trong việc quản lý rừng khác nhau.

Thứ nhất, đối với hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng phòng hộ, ngoài các trách nhiệm và lợi ích trên, chủ rừng này phải xây dựng khu rừng theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền quản lý về rừng. Họ được chuyển đổi diện tích rừng được giao cho các hộ gia đình, cá nhân khác trong cùng xã, đối với cá nhân được để lại thừa kế quyền sử dụng rừng theo quy định của pháp luật; được phép khai thác những cây sâu, bệnh, gẫy, đổ trong rừng phòng hộ, khai thác rừng phòng hộ khi đến tuổi khai thác nhưng phải đảm bảo mật độ phòng hộ của rừng theo quy định. Tuy nhiên , chủ thể này không đư ợc phép chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh… giá trị quyền sử dụng rừng phòng hộ.

Thứ hai, đối với hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao rừng sản xuất. Nếu là rừng tự nhiên thì chủ rừng phải có kế hoạch quản lý, bảo vệ và sản xuất, kinh doanh rừng theo hướng dẫn của UBND cấp xã hoặc của cán bộ kiểm lâm và được chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt; được khai thác gỗ và các thực vật khác trừ các loài động thực vật bị cấm không được khai thác theo quy định của chính phủ.

Việc khai thác rừng phải theo quy chế quản lý rừng và chấp hành quy phạm, quy trình kỹ thuật BV&PTR, sau khi khai thác phải tổ chức bảo vệ, nuôi dưỡng, làm giàu rừng cho đến kỳ khai thác sau. Nếu hộ gia đình, cá nhân được giao rừng sản xuất là rừng trồng thì chủ rừng phải có kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng, trồng rừng mới, bảo vệ rừng, kết hợp kinh doanh lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, môi trường trong khu rừng phù hợp với quy hoạch, quy chế quản lý rừng. Trường hợp chủ rừng tự bỏ vốn gây trồng và chăm sóc rừng thì được tự quyết định việc khai thác rừng trồng, các sản phẩm được khai thác từ rừng trồng được tự do lưu thông trên thị trường, riêng các cây gỗ quý khai thác từ rừng trồng thì khi khai thác chủ rừng phải thực hiện theo quy định của chính phủ.

Nhà nước đặt ra mục tiêu trồng 2 triệu ha rừng sản xuất trong giai đoạn 2010 – 2020 (bình quân mỗi năm trồng 250 nghìn ha), giải quyết việc làm, tăng thu nhập nhằm ổn định đời sống cho đồng bào miền núi Như vậy, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân là đối tượng chủ yếu thực hiện mục tiêu này. Hộ gia đình, cá nhân tham gia trồng rừng sản xuất được nhà nước hỗ trợ kinh phí từ 2 triệu đến 4 triệu đồng trên một ha tùy theo loại cây và vùng trồng rừng sản xuất.

Thứ ba, đối với hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê rừng sản xuất thì được hưởng giá trị tăng thêm của rừng do chủ rừng tự đầu tư trong thời gian được thuê theo quy định của pháp luật; được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị rừng sản xuất là rừng trồng do mình tự đầu tư. Nếu rừng sản xuất được thuê là rừng trồng bằng vốn ngân sách nhà nước thì hộ gia đì nh , cá nhân lập hồ sơ khai thác trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nguồn vốn quyết định, khai thác gỗ quý hiếm thực hiện theo quy định của chính phủ; được chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử dụng rừng theo quy định của pháp luật; chỉ được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng được xác định tại thời điểm được thuê theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, đối với hộ gia đình, cá nhân được nhà nước cho thuê đất để trồng rừng phòng hộ thì được sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất trồng rừng; được khai thác lâm sản theo quy định của pháp luật. Như vậy, chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân quản lý các diện tích rừng được giao, được cho thuê và phải chịu trách nhiệm đối với các diện tích rừng đó.

  • 2.2.Quản lý tài nguyên rừng của tổ chức
  • Chủ rừng là các tổ chức sự nghiệp của nhà nước

Hiện nay, các Ban quản lý rừng được thành lập có biên chế nhân sự ít, nhưng quản lý diện tích rừng rộng lớn. Vì vậy, để BV&PTR nhà nước cho phép các Ban quản lý rừng này được khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cá nhân tại địa phương. Các quyền và nghĩa vụ của các Ban quản lý và của bên nhận khoán bảo vệ rừng được thể hiện trong hợp đồng khoán.

  • Chủ rừng là tổ chức kinh tế trong nước

Chủ rừng là tổ chức kinh tế trong nước có thể được nhà nước giao, cho thuê diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng, rừng phòng hộ hoặc khu bảo vệ cảnh quan của rừng đặc dụng. Vì vậy, tuỳ thuộc vào loại rừng được giao, được thuê, thậm chí tuỳ thuộc vào phương thức và nguồn gốc số tiền trả cho việc giao và thuê rừng mà chủ rừng này có các quyền và nghĩa vụ khác nhau. Chủ rừng này được nhà nước giao, cho thuê rừng chủ yếu với mục đích sản xuất kinh doanh nhưng cũng phải đảm bảo bảo toàn vốn rừng và phát triển rừng bền vững; sử dụng rừng đúng mục đích, đúng quy hoạch, kế hoạch; được nhà nước công nhận quyền sử dụng rừng hoặc quyền sở hữu rừng.

  • Chủ rừng là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh rừng tại Việt Nam, theo quy định hiện hành chỉ được nhà nước giao có thu tiền sử dụng rừng hoặc cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng. Đối với các diện tích rừng được giao hoặc được thuê chủ rừng này cũng phải bảo toàn vốn rừng và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào việc được giao rừng có thu tiền sử dụng rừng hoặc phương thức trả tiền thuê rừng mà chủ rừng này có các quyền lợi và trách nhiệm khác nhau.

  • Chủ rừng là tổ chức, cá nhân nước ngoài

Chủ rừng là tổ chức, cá nhân nước ngoài khi thực hiện dự án đầu tư vào kinh doanh trồng rừng chỉ được nhà nước cho thuê rừng sản xuất là rừng trồng hoặc cho thuê đất chưa có rừng được quy hoạch để trồng rừng sản xuất.

3.Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

  • 3.1.Đổi mới về tổ chức quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng

Công tác tổ chức quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng cần phải được hoàn thiện từ cấp trung ương đến cấp địa phương. Đổi mới tổ chức quản lý cả hệ thống cơ quan thẩm quyền chung và cơ quan chuyên môn – kiể m lâm.

Trước hết, đổi mới cá ch thứ c quản lý ở cấp trung ương, trong đó Bộ NN&PTNT giữ vai trò chủ đạo trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng và thự c hiệ n cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

  • Bộ TN&MT phối hợp với Bộ NN&PTNT trong công tác quản lý đất lâm nghiệp, xác định ổn định quy hoạch đất lâm nghiệp trên bản đồ và ngoài thực địa theo Nghị quyết của Quốc hội; chỉ đạo thực hiện công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp gắn với giao rừng, cho thuê rừng; hoàn thiện hồ sơ đối với các diện tích đất đã giao, cho thuê và tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
  • Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính phối hợp với Bộ NN&PTNT xây dựng các cơ chế, chính sách; đảm bảo cân đối kế hoạch ngân sách cho quản lý bảo vệ rừng.
  • Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ NN&PTNT xây dựng các cơ chế, chính sách, phân bổ biên chế kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách trong các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
  • Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ NN&PTNT hướng dẫn, chỉ đạo lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng kiểm lâm tham gia công tác bảo vệ rừng ở cơ sở; chỉ đạo, điều hành các lực lượng quốc phòng phối hợp có hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.
  • Bộ Công an phối hợp với Bộ NN&PTNT hướng dẫn, chỉ đạo lực lượng dân phòng, công an xã và lực lượng kiểm lâm tham gia công tác bảo vệ rừng ở cơ sở; chỉ đạo, điều hành lực lượng công an phối hợp có hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.

Đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng nâng cao năng lực của cơ quan kiể m lâm thông qua các dự án đào tạo nâng cao năng lực; đầu tư bảo vệ rừng và PCCCR; tăng cường trang bị vũ khí quân dụng và công cụ hỗ trợ cho kiểm lâm, bổ sung nhân lực cho lực lượng kiểm lâm vì hiện nay bình quân một cán bộ kiể m lâm đang phụ trách bảo vệ một nghìn (1.000) ha rừng. Đây được xem là “nhiệm vụ bất khả thi” vì diện tích quá lớn, địa hình hiểm trở , khó quản lý.

Bên cạnh đó , trong những năm qua, chưa UBND cấp tỉnh, cấp huyện hay cấp xã nào bị xử lý nghiêm khắc về việc quản lý yếu kém gây cháy rừng, mất rừng, chuyển đổi đất rừng… Điều đó, chưa phản ánh đúng thực trạng quản lý tài nguyên rừng của nước ta. Vậy, để quản lý rừng bền vững thì việc làm rõ trách nhiệm của các cơ quan chức năng được xem như một biện pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

3.2.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

Một là, các cơ quan chức năng như hệ thống cơ quan kiểm lâm phải thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của các chủ rừng như: hoạt động trồng rừng, phát đốt nương rẫy, hoạt động PCCCR, hoạt động gây nuôi, trồng cấy thực vật, động vật hoang dã, hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản… để kịp thời ngăn chặn và xử lý các vi phạm; cơ quan kiểm lâm thường xuyên tham mưu đầy đủ cho UBND địa phương để có những chỉ đạo và giải quyết, xử lý ngăn chặn kịp thời các vi phạm.

Hai là, Cục Kiểm lâm và UBND cấp tỉnh, cấp huyện phải trực tiếp tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra để thực hiện việc kiểm tra, giám sát chính các cơ quan kiểm lâm cấp dưới nhằm ngăn chặn và đẩy lùi các hành vi vi phạm của chính lực lượng bảo vệ rừng.

Bà là, Các cơ quan Chính phủ, Bộ NN&PTNT, Bộ TN&MT và UBND cấp tỉnh, cấp huyện, tùy theo chức năng và thẩm quyền cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng cho các đối tượng theo quy định của pháp luật, đặc biệt là việc cho thuê rừng, đất rừng cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Trong quá trình thực hiện, những chủ thể được giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất rừng mà không tiến hành triển khai dự án theo đúng thời hạn quy định và mục đích sử dụng thì kiên quyết thu hồi.

Đối với việc chuyển mục đích sử dụng rừng, đất rừng, đặc biệt là chuyển rừng, đất rừng thành đất trồng cây công nghiệp, đất phi nông nghiệp cần phải được thẩm định qua các hội đồng khoa học, các chuyên gia và thực hiện theo đúng thẩm quyền đã quy định.

Bốn là, kiểm tra, giám sát việc chi trả dịch vụ môi trường rừng của các chủ thể hưởng lợi. Hiện nay, pháp luật đã quy định các đối tượng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các cơ sở sản xuất thủy điện, các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước, các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng, các đối tượng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản

3.3. Tuyên truyền , phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

Việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật nói chung và hệ thống văn bản về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng sẽ không có ý nghĩa nếu người dân không biết gì về những quy định đó. Chính vì vậy, một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật quan trọng nữa là tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Chỉ có tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật mới tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức và sự tôn trọng pháp luật của người dân nông thôn và miền núi và của chính những người tổ chức thực thi pháp luật. Từ việc nhận thức được vai trò to lớn của rừng và hiểu đúng pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, người dân mới thực sự quan tâm bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đầu nguồn, bảo vệ môi trường sinh thái và đa dạng sinh học…

Trong thời gian vừa qua, các cơ quan chức năng như UBND các cấp, cơ quan kiểm lâm… cũng đã thực hiện nhiều biện pháp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân, đặc biệt là người dân miền núi – những người trực tiếp quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật vềquản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đã đạt được kết quả đáng khích lệ – bằng chứng là theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm – Bộ NN&PTNT, tổng số vụ vi phạm lâm luật ngày càng giảm, năm 2015 là: 40.841 vụ; năm 2016 là 33.821 vụ; năm 2017 là 29.549 vụ. Tuy nhiên, hoạt động tuyên truyền chủ yếu mới chú trọng vào những người dân ở tại địa bàn có rừng mà chưa có những nội dung tuyên truyền phù hợp cho cả những đối tượng sử dụng sản phẩm từ rừng để họ có thái độ tốt trong việc sử dụng các sản phẩm đó, ví dụ: không dùng các sản phẩm đồ gỗ từ những loại gỗ bị cấm hoặc không tiêu thụ sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã…; tuyên truyền để mỗi người dân hiểu được giá trị môi sinh hàng ngày của mỗi chúng ta do BV&PTR mà có. Vì vậy, biện pháp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng phải đồng bộ để mỗi người dân đều nhận thức được vai trò của việc BV&PTR chứ không chỉ là tuyên truyền cho những người dân trực tiếp bảo vệ rừng.

Bên cạnh đó, biện pháp tuyên truyên, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng cũng phải hết sức chú ý tới đối tượng trực tiếp tổ chức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật – đó chính là các cán bộ của các cơ quan chức năng. Ví dụ: cán bộ kiểm lâm, cán bộ quản lý thị trường phải hiểu và nắm bắt rất rõ các loài thực vật, động vật nguy cấp, quý hiếm mà pháp luật cấm tiêu thụ. Đây không phải là điều dễ dàng vì họ có thể nhận diện được các cây gỗ quý – bị cấm khai thác, sử dụng nhưng nhận diện được sản phẩm của các loài gỗ quý đó thì không hề đơn giản nên đôi khi người dân vi phạm mà cán bộ không biết.

Theo em, việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật chứ không phải là xử phạt thật nặng đối với người dân. Vì chỉ khi người dân nhận thức được giá trị của việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng và lợi ích đích thực mà họ được hưởng thì hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng mới có thể bền vững, còn hình phạt nặng, phạt tiền cao nhưng nhà nước không đạt được mục tiêu quản lý rừng bền vững mà cũng chẳng thu được tiền khi họ không có tài sản gì để nộp.

3.4.Tăng cường nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho hoạt động quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng

Nhà nước cần có kế hoạch đầu tư các trang thiết bị chữa cháy cho cho các khu rừng trọng điểm và các Ban chỉ huy PCCCR và yêu cầu các chủ rừng đầu tư. Ví dụ: Máy chữa cháy rừng bằng sức gió do các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp chế tạo. Loại máy này được thiết kế gọn nhẹ và dễ sử dụng ngay cả ở địa hình phức tạp, có thể dập tắt đám cháy ở mặt đất với chiều cao ngọn lửa 2,5m, chữa cháy rất tốt cho rừng bạch đàn, rừng keo, rừng cao su, rừng phòng hộ hoặc xe chữa cháy rừng đa năng, có thể chữa cháy rừng bằng đất, cát tại chỗ để dập tắt đám cháy, rất phù hợp với nơi không có nguồn nước, ngoài ra trên xe còn thiết kế hệ thống chữa cháy rừng bằng súng phun nước để dập tắt đám cháy. Chiếc xe còn có hệ thống làm sạch cỏ rác lắp ở phía sau để tạo băng cách ly khoanh vùng cô lập đám cháy

Theo quy định hiện hành, ngân sách nhà nước hỗ trợ ban đầu khi thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng là một trăm tỷ đồng (100.000.000.000đ) và cấp đủ trong thời hạn hai năm kể từ khi thành lập [27, Điều 9, khoản 1, điểm a]. Tuy nhiên, để việc chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện tốt, trongnhững năm đầu khi nguồn hình thành quỹ chưa ổn định, thậm chí có chủ thể còn chây ì không nộp phí thì nhà nước nên cấp ngân sách hàng năm cho Quỹ BV&PTR.

Tóm lại, để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, ngoài các giải pháp đã phân tích như: đổi mới công tác quản lý nhà nước, tăng cường kiểm tra, giám sát, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thì việc tăng cường nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất được xem như điều kiện quan trọng để thực hiện tốt việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

KẾT LUÂN

Trong thời đại ngày nay, khi môi trường ngày càng bị suy thoái, sự sống trên hành tinh đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ theo chiều hướng ngày một xấu đi của hiện tượng biến đổi khí hậu thì việc BV&PTR bền vững càng quan trọng hơn bao giờ hết. Đó không phải là mục tiêu của riêng quốc gia nào mà đó là mục tiêu của toàn nhân loại hướng tới.

Để thực hiện việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Việt Nam một cách bền vững, mỗi ngành khoa học lại có cách tiếp cận và đề xuất riêng. Dưới góc độ luật học, tác giả nghiên cứu các quy định pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiệ n nay và đề xuất các giải pháp phù hợp. Với cách thức tiếp cận từ khía cạnh pháp luật, Tiểu luận đã nghiên cứu và luận giải được các vấn đề về:

Cơ sở lý luận của pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng như phân tích, bình luận và làm rõ các khái niệm, xây dựng nội dung, nguyên tắc điều chỉnh, đánh giá vai trò của pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng cũng như xác định các yêu cầu đối với với pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

Tiểu luận phân tích sự phát triển của pháp luật về QL&BVNTR của Việt Nam qua các thời kỳ và chỉ ra các nhân tố hợp lý, tích cực cũng như các mặt còn hạn chế để giúp cho việc hoàn thiện pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng hiện nay.

Hệ thống các quy định pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của Việt Nam hiện nay khá đồ sộ và cũng có những điểm tiến bộ nhất định nhưng vẫn còn không ít những hạn chế cản trở sự phát triển bền vững tài nguyên rừng. Để có thể hoàn thiện các quy định pháp luật này, cần phải làm rõ được các khiếm khuyết. Tiểu luận đã phân tích một cách cơ bản những khiếm khuyết đó, cũng như chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó. Bên cạnh đó, tác giả có đối chiếu một số quy định pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học cho Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Thanh Huyền (2012), “Hoàn thiện pháp luật đối với chủ rừng là doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (4), tr.48 – 52.
  2. Nguyễn Thanh Huyền (2011), “Hoàn thiện quy chế pháp lý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê rừng, đất rừng tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học tập 27 (4), tr.268 – 274.
  3. Nguyễn Thanh Huyền (2011), “Quyền tài sản của chủ rừng – Đôi điều bàn luận”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật (10), tr.36-39.
  4. Nguyễn Thanh Huyền (2011), “Nghiên cứu một số quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển thực vật, động vật hoang dã ở Việt Nam”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (171), tr.81-86.
  5. Nguyễn Thanh Huyền (2008), “Nghiên cứu một số tội xâm hại môi trường rừng được quy định tại chương XVII – Các tội phạm về môi trường trong Bộ luật hình sự năm 1999”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (123), tr.103 -107.
  6. Nguyễn Thanh Huyền (2007), “Nghiên cứu chính sách thuế trong phát triển lâm nghiệp”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (104), tr.14 -16.

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Các Giải Pháp Pháp Lý Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Tài Nguyên Rừng

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài Các Giải Pháp Pháp Lý Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Tài Nguyên Rừng các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần dịch vụ làm báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

Phần 1: Mở đầu

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Cấp dưỡng là một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình ở nước ta và vấn đề này ngày càng nhận được sự chú ý của cộng đồng. Việc cấp dưỡng nhằm đảm bảo cho người được cấp dưỡng được hưởng sự quan tâm, chăm sóc về vật chất và tinh thần, đảm bảo cho người được cấp dưỡng có đủ điều kiện tồn tại và phát triển. Nó còn thể hiện sự thương yêu, đoàn kết của mọi người quan tâm lẫn nhau và góp phần ổn định xã hội. Để củng cố sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội, chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, có thể xuất phát từ sự thiếu hiểu biết pháp luật, từ sự vô trách nhiệm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc có thể do các quy định của pháp luật về chế định này chưa đầy đủ cho nên các vi phạm về nghĩa vụ cấp dưỡng còn xẩy ra rất nhiều. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ra đời với nhiều điểm mới về nghĩa vụ cấp dưỡng mới chỉ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về vấn đề này và thực tiễn thực thi là điều rất quan trọng và cần thiết. Với mục đích nghiên cứu sâu cả lý luận và thực tiễn thực thi đồng thời có sự so sánh với pháp luật nước ngoài về vấn đề này để có thể đưa ra những giải pháp thích hợp cho những quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng, học viên chọn đề tài “Nghĩa vụ cấp dưỡng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” làm đề tài báo cáo thực tập chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự.

2.  Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu những vấn đề chung về nghĩa vụ cấp dưỡng làm sáng tỏ các trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng như mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng… tập trung vào những quy định tiến bộ của luật hiện hành so với những văn bản pháp luật trước đó. Qua đó, khẳng định vai trò và ý nghĩa của nghĩa vụ này trong lý luận và thực tiễn.

Nghiên cứu các quy định của pháp luật một vài nước trên thế giới để từ đó có cái nhìn khách quan hơn trong sự so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn, đề tài còn phân tích một số hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình vận hành và áp dụng pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng, từ đó trình bày hướng hoàn thiện thông qua việc đưa ra các khuyến nghị cụ thể.

3.  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghĩa vụ cấp dưỡng.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề về nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời tìm hiểu sơ lược những quy định trước đây cũng như các quy định trong pháp luật của một số nước về vấn đề này. Từ đó, tìm ra được sự kế thừa và phát triển các quy định về vấn đề nghĩa vụ cấp dưỡng của pháp luật hiện hành.

4.  Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê.

5.  Kết cấu của báo cáo

  • Phần 1: Mở đầu
  • Phần 2: Lý thuyết
  • Phần 3: Hiện trạng
  • Phần 4: Giải pháp
  • Phần 5: Kết luận.

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình , các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luật, để tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần viết báo cáo thực tập thuê có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Pháp Luật Về Con Dấu Doanh Nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: PHÁP LUẬT VỀ CON DẤU DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã loại bỏ chế định về sử dụng con dấu trong các giao dịch giao kết giữa các chủ thể với doanh nghiệp. Với xu thế chung của thế giới là phương thức giao dịch điện tử, thì việc cải cách về con dấu doanh nghiệp là hoàn toàn phù hợp, tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp hoạt động. Thời điểm trước năm 2014 Việt Nam hiện là một trong 7 quốc gia còn lại trên thế giới còn giữ quy định bắt buộc sử dụng con đấu trong doanh nghiệp, khi Luật doanh nghiệp 2014 chính thức được ban hành và có hiệu lực, một những cải cách tích cực nổi bật của Luật này là về con dấu doanh nghiệp. Với quy định tại Điều 44 nêu trên của Luật doanh nghiệp 2014 và các quy định hướng dẫn tại các Nghị định như Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp, pháp luật về doanh nghiệp đã cởi trói cho con dấu doanh nghiệp, đã trao cho doanh nghiệp phần lớn quyền tự quyết các vấn đề có liên quan đến con dấu.

Tuy vậy, qua thực tế kể từ khi Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thực thi, dường như các doanh nghiệp vẫn chưa tận dụng triệt để cải cách tiến bộ này, chưa có nhiều sự thay đổi, chuyển biến rõ nét, tích cực về việc quản lý và sử dụng con dấu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp vẫn còn phụ thuộc vào hình thức, nội dung của con dấu theo quy định cũ. Nguyên nhân một phần là các doanh nghiệp ngại thay đổi nhưng một phần cũng là do cải cách của Luật doanh nghiệp 2014 mặc dù có tiến bộ nhưng chưa thật sự triệt để. Điều đó cho thấy khi Luật doanh nghiệp 2014 được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bởi đạo luật khác trong tương lai, vấn đề về con dấu doanh nghiệp vẫn phải cần được tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi theo hướng triệt để hơn.

Xuất phát từ thực tế này, em đã chọn đề tài PHÁP LUẬT VỀ CON DẤU DOANH NGHIỆP THEO LUẬT DOANH NGHIỆP” làm đề tài báo cáo thực tập của mình.

2.Mục đích nghiên cứu

– Xác định nội dung và làm rõ một số vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm có liên quan tới giá trị pháp lý con dấu doanh ngiệp.

-Phân tích, làm rõ các hạn chế, bất cập, đánh giá thực trạng xác định luật áp dụng trong sử dụng con dấu doanh nghiệp trong giao dịch ở Việt Nam.

-Từ những vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực trạng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp ở Việt Nam.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của chuyên đề chính là giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp.

Chuyên đề không đi nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến con dấu của doanh nghiệp mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về: giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, làm rõ hơn pháp luật nước ta về xác định luật áp dụng trong sử dụng con dấu doanh nghiệp trong giao dịch theo Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Đồng thời phân tích, so sánh với các quy định về xác định luật trong sử dụng con dấu doanh nghiệp trong giao dịch một số nước trên thế giới.

  1. Cấu trúc đề tài:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của báo cáo thực tập gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung con dấu doanh nghiệp
  • Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam về sử dụng con dấu doanh nghiệp
  • Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.Khái quát chung về giá trị pháp lý con dấu doanh nghiệp

1.1.1.Khái niệm và đặc điểm con dấu doanh nghiệp

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm giá trị pháp lý con dấu doanh nghiệp

1.2. Một số nội dung cơ bản về giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp

1.2.1. Giá trị pháp lý của văn bản, tài liệu có con dấu của doanh nghiệp

1.2.2. Đăng ký, chấm dứt và hủy con dấu doanh nghiệp

1.3. Sự khác biệt về giá trị pháp lý giữa con dấu doanh nghiệp với con dấu của các cơ quan, tổ chức khác

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ TRONG SỬ DỤNG CON DẤU DOANH NGHIỆP

2.1. Pháp luật quy định sử dụng con dấu doanh nghiệp

2.1.1. Đối tượng liên quan đến sử dụng con dấu doanh nghiệp

2.1.2. Chủ thể sử dụng con dấu doanh nghiệp

2.1.3. Các quy định sử dụng con dấu doanh nghiệp trong hợp đồng

2.1.4. Quy định về giải quyết tranh chấp và các vấn đề khác liên quan đến con dấu doanh nghiệp

2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về sử dụng con dấu doanh nghiệp hiện nay

2.2.1. Kết quả đạt được

2.2.2. Hạn chế

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CON DẤU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

3.1. Định hướng chung

3.2. Các giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật về giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp

KẾT LUẬN

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Pháp Luật Về Con Dấu Doanh Nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp 

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài Pháp Luật Về Con Dấu Doanh Nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp  , các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần dịch vụ làm báo cáo thực tập  có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Nhật Ký Thực Tập Ngành Luật Tại Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: NHẬT KÝ THỰC TẬP NGÀNH LUẬT TẠI CÔNG TY TNHH

Ngày/tháng/năm Nội dung công việc Văn bản pháp lý liên quan Kết quả thực hiện
Tuần 1 Tham gia thực tập tại đơn vị thực tập, giới thiệu về bản thân trước công ty, tìm hiểu về cô cấu tổ chức công ty, tìm hiểu lịch sử hình thành phát triển công ty, tham gia thực tập tại phòng kinh doanh tại công ty Nội quy làm việc của công ty Thích nghi sớm vào môi trường công ty sau 1 ngày làm việc
Tuần 2 Làm quen với bộ phận phòng kinh doanh, thực hiện các công việc photocopy, in ấn phụ anh chị trong phòng

Tìm hiểu về lĩnh vực kinh doanh tổ chức sự kiện của công ty

Nhanh chóng nắm bắt cách thức sử dụng thiết bị văn phòng
Tuần 3 Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo hợp đồng, báo giá cho sản phẩm mới, kiểm tra chi tiết yêu cầu bên khách hàng về sự kiện sắp tới Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt các bản hợp đồng mà phòng kinh doanh giao phó
Tuần 4 Tham gia soạn thảo hợp đồng dịch vụ tổ chức sự kiện tại công ty

Thu thập số liệu làm báo cáo thực tập

Tham gia soạn thảo hợp đồng dịch vụ tổ chức sự kiện tại công ty

Thu thập số liệu làm báo cáo thực tập

 

Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt các bản hợp đồng mà phòng kinh doanh giao phó
Tuần 5 Tìm hiễu quy trình tổ chức sự kiện của công ty, từ tìm kiếm khách hàng cho tới ký hợp đồng và triển khai thi công

 

Luật doanh nghiệp 2014

Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 6 Tìm hiễu quy trình tổ chức sự kiện của công ty, từ tìm kiếm khách hàng cho tới ký hợp đồng và triển khai thi công

 

Luật doanh nghiệp 2014

Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 7 Tìm hiễu quy trình tổ chức sự kiện của công ty, từ tìm kiếm khách hàng cho tới ký hợp đồng và triển khai thi công

 

Luật doanh nghiệp 2014

Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 8 Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo hợp đồng, báo giá cho sản phẩm mới, kiểm tra chi tiết yêu cầu bên khách hàng về sự kiện sắp tới Luật doanh nghiệp 2014

Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 9 Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo hợp đồng, báo giá cho sản phẩm mới, kiểm tra chi tiết yêu cầu bên khách hàng về sự kiện sắp tới Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Luật doanh nghiệp 2014

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 10 Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo hợp đồng, báo giá cho sản phẩm mới, kiểm tra chi tiết yêu cầu bên khách hàng về sự kiện sắp tới Luật doanh nghiệp 2014

Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 11 Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo hợp đồng, báo giá cho sản phẩm mới, kiểm tra chi tiết yêu cầu bên khách hàng về sự kiện sắp tới Mẫu hợp đồng thương mại

Luật Thương mại 2005

Hoàn thành tốt công việc được giao
Tuần 12 Hỗ trợ phòng kinh doanh soạn thảo hợp đồng, báo giá cho sản phẩm mới, kiểm tra chi tiết yêu cầu bên khách hàng về sự kiện sắp tới Hoàn thành tốt công việc được giao

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Nhật Ký Thực Tập Ngành Luật Tại Công Ty TNHH 

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài ABC, các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Pháp Luật Về Thỏa Ước Lao Động Tập Thể Và Thực Trạng Áp Dụng Tại Công Ty

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: PHÁP LUẬT VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU SA THẦY

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Việc kí kết thỏa ước lao động tập thể nhằm nâng cao vị thế của người lao động, đảm bảo mối quan hệ lao động hài hoà giữa người lao động và người sử dụng lao động; tạo sự ổn định và phát triển bền vững cho các doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung.

Thực tế trong suốt những năm qua, kể từ khi bản thỏa ước lao động tập thể ra đời đầu tiên tại nước Anh vào cuối thế kỉ XVIII tới nay, chúng ta không thể phủ nhận vai trò của nó trong việc bình ổn, hạn chế các xung đột và tranh chấp trong quan hệ lao động; góp phần to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế chung.

Nhìn vào thực tế chúng ta thấy nền kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ chúng mặt, quan hệ lao động ngày càng trở thành vấn đề phức tạp và nhiều biến động. Tình hình tranh chấp lao động và đình công ngày càng trở nên phổ biến hơn. Do vậy, việc nghiên cứu những qui định của pháp luật về thoả ước và thực tiễn thực hiện thoả ước nhằm thúc đẩy việc kí kết thỏa ước lao động tập thể và giúp thỏa ước lao động tập thể trở về đúng với chức năng của nó hài hoà quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động là rất cần thiết.

Nếu so sánh các nguồn lực với nhau thì nguồn nhân lực có ưu thế hơn cả. Hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định đến việc tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra các chính sách để phát triển nguồn lực này cho phù hợp.

Với nhận định như trên, sau thời gian học tập nghiên cứu tại trường và thực tập tại Công ty cổ phần cao su Sa Thầy nên tôi đã chọn đề tài “Pháp luật về thỏa ước lao động tập thể và thực trạng áp dụng tại Công ty cổ phần cao su Sa Thầy” làm báo cáo tốt nghiệp của mình.

  1. Mục đích nghiên cứu

 Mục đích của chuyên đề là làm sáng tỏ những vấn đề lí luận về thỏa ước lao động tập thể, thực trạng tình hình thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại Công ty cổ phần cao su Sa Thầy từ đó đề xuất ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa thỏa ước lao động tập thể.

  1. Đối tượng nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là những qui định của pháp luật hiện hành về thỏa ước lao động tập thể và tình hình thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại Công ty cổ phần cao su Sa Thầy

  1. Phạm vi nghiên cứu

Thỏa ước lao động tập thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học với nhiều cách thức và mức độ tiếp cận khác nhau. Dưới góc độ khoa học pháp lý và phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu, chuyên đề nghiên cứu thỏa ước lao động tập thể với tư cách là một nội dung của pháp luật lao động Việt Nam. Chuyên đề đi sâu vào tìm hiểu những nội dung của thỏa ước lao động tập thể và thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần cao su Sa Thầy

  1. Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề dùa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-LêNin với phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu thỏa ước lao động tập thể. Ngoài ra, chuyên đề còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử,…nhằm vận dụng nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ vấn đề.

  1. Kết cấu của bài chuyên đề

 Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của bài chuyên đề được chia làm 2 chương:

  • Chương 1: Khái quát chung về thoả ước lao động tập thể
  • Chương 2: Các qui định pháp luật hiện hành về thoả ước lao động tập thể và tình hình thực hiện tại Công ty cổ phần cao su Sa Thầy
  • Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiên pháp luật thỏa ước lao động tâp thể

Do thời gian hạn hẹp và năng lực chuyên môn có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót khi nghiên cứu đề tài. Em rất mong nhận được sự chỉ dạy của các thầy cô cùng với sự đóng góp ý kiến của các bạn để bài chuyên đề được chính xác, đầy đủ và hoàn thiện hơn.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THOẢ ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ

1.1.Các khái niệm và đặc điểm về thoả ước lao động tập thể

1.1.1. Khái niệm

1.1.2. Đặc điểm

1.2. Nội dung thỏa ước lao động tập thể

1.2.1.Việc làm và đảm bảo việc làm

1.2.2.Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

1.2.3.Tiền lương, phụ cấp và tiền thưởng

1.2.4.Định mức lao động

1.2.5.An toàn lao động, vệ sinh lao động

1.2.6.Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

1.2.7.Những nội dung thỏa thận khác

1.4. Chế độ quản lý lao động tại công ty

1.4.1. Quy định về tiền lương, phụ cấp và tiền thưởng

1.4.2. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

1.4.3. Chế độ bảo hộ lao động

1.4.4. Về lao động nữ

1.4.5. Những ưu đãi đối với lao động nữ

1.5. Pháp luật về kỷ luật lao động tại Công ty

1.5.1. Khái niệm kỷ luật lao động

1.5.2. Ý nghĩa kỷ luật lao động

1.5.3. Nội dung kỷ luật lao động

1.5.4. Những biện pháp đảm bảo kỷ luật lao động

1.5.5. Trách nhiệm kỷ luật

1.5.6. Trách nhiệm vật chất của người lao động

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU SA THẦY

2.1. Tổng quan về công ty cổ phần cao su Sa Thầy

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Công ty

2.1.3.1. Sơ đồ tổ chức

2.1.3.2.Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban

2.1.4 Tổng quan về tình hình nhân sự tại công ty

2.2. Việc áp dụng những quy định của pháp luật về thỏa ước lao động tập thể tại công ty cổ phần cao su Sa Thầy

2.2.1. Về hợp đồng và tuyển chọn lao động

2.2.2 Thỏa ước thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tại công ty cổ phần cao su Sa Thầy

2.2.3. Điều kiện lao động, chế độ làm việc, nghỉ ngơi

2.2.4. Phân tích tình hình sử dụng thời gian lao động

2.2.5. Định mức lao động

2.2.6. Môi trường làm việc

2.2.7. Các hình thức kích thích vật chât & tinh thần đối với người lao động

2.3. Đánh giá việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể tại công ty cổ phần cao su Sa Thầy

2.3.1. Điểm mạnh

2.3.2. Điểm yếu

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIÊN PHÁP LUẬT THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TÂP THỂ

3.1. Về các quy định của pháp luật

3.2. Về quá trình tổ chức thực hiện

3.2.1. Đối với các cơ quan, tổ chức Nhà nước

3.2.2. Đối với cơ quan quản lý Nhà nước về lao động

3.2.3. Đối với tổ chức công đoàn cơ sở

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Pháp Luật Về Thỏa Ước Lao Động Tập Thể Và Thực Trạng Áp Dụng Tại Công Ty

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài ABC, các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh – Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP:  PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP.

  1. Tên đề tài. PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP.
  2. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, điều kiện kinh doanh đã và đang ngày càng trở thành công cụ quản lý nhà nước quan trọng. Nhà nước sử dụng điều kiện kinh doanh để điều tiết, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hướng đến bảo vệ lợi ích chung của xã hội và cộng đồng. Kể từ khi hình thành và được ghi nhận chính thức trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, quy định về điều kiện kinh doanh đã có nhiều cải thiện, góp phần hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước trong các lĩnh vực, ngành nghề có thể ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo vệ môi trường và sức khỏe của cộng đồng. Cùng với những thành quả đạt được, pháp luật về điều kiện kinh doanh cũng còn nhiều hạn chế như thiếu rõ ràng, minh bạch, hoặc còn quy định tản mạn tại nhiều văn bản khác nhau; cơ chế kiểm soát, đánh giá việc ban hành, thực thi các điều kiện kinh doanh vẫn chưa được thực hiện thường xuyên và có hệ thống. Những hạn chế trên đã làm giảm ý nghĩa của điều kiện kinh doanh trong quản lý nhà nước, mặt khác, hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân, nhiều trường hợp gây “bức xúc” trong doanh nghiệp (DN), người dân. Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa và thực trạng của pháp luật về điều kiện kinh doanh hiện nay, việc nghiên cứu, đánh giá nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh là cần thiết và ý nghĩa. Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về điều kiện kinh doanh – Thực trạng và một số giải pháp” để làm chuyên đề tốt nghiệp đại học.

  1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về điều kiện kinh doanh, pháp luật điều điều kiện kinh doanh; qua đó tìm giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về điều kiện kinh doanh.

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về điều kiện kinh doanh và pháp luật về điều kiện kinh doanh;

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh qua đó chỉ ra những ưu điểm, tồn tại hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành;

– Nghiên cứu yêu cầu hoàn thiện và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh

Tuy nhiên, pháp luật về điều kiện kinh doanh là vấn đề có phạm vi rộng, quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Mỗi lĩnh vực kinh doanh khác nhau lại có các quy định về điều kiện kinh doanh riêng.

Đánh giá, đối chiếu với quy định pháp luật hiện hành để đưa ra các kết luận riêng về vấn đề này và qua việc tìm hiểu điều kiện kinh doanh tại công ty TNHH TMDV Tin học Quỳnh Châu.

5.Phương pháo nghiên cứu

– Phương pháp mô tả, phân tích, tổng hợp, so sánh: Trong việc trình bày  một số vấn đề lý luận, quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh; đánh giá thực trạng pháp luật điều kiện kinh doanh hiện hành, có so sánh với pháp luật một số nước có liên quan; so sánh quy định pháp luật giữa các thời kỳ.

– Phương pháp diễn giải, quy nạp trong việc đưa ra yêu cầu và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh.

  1. Kết cấu của báo cáo.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung khóa luận gồm có 5 chương:

  • Phần 1: Mở đầu
  • Phần 2: Khái quát về điều kiện kinh doanh và pháp luật về điều kiện kinh doanh
  • Phần 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu Chiếu Sáng Việt Nam
  • Phần 4: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu Chiếu Sáng Việt Nam
  • Phần 5: Kết luận

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

PHẦN  2: KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

2.1. Khái quát về điều kiện kinh doanh

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm điều kiện kinh doanh

2.1.2. Sự cần thiết, ý nghĩa của điều kiện kinh doanh

2.1.3. Phân loại điều kiện kinh doanh

2.2. Khái quát pháp luật về điều kiện kinh doanh

2.2.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về điều kiện kinh doanh

2.2.2. Khái quát sự hình thành và phát triển của pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam

2.2.3. Các yếu tố chi phối pháp luật về điều kiện kinh doanh

PHẦN 3: NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

3.1. Điều kiện kinh doanh phải được xác nhận bằng giấy phép

3.1.1. Giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

3.1.1.1. Cơ sở pháp lý

3.1.1.2. Chủ thể có thẩm quyền cấp giấy phép

3.1.1.3. Điều kiện cấp phép

3.1.2. Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3.1.3. Chứng chỉ hành nghề

3.2. Điều kiện kinh doanh phải được xác nhận bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

3.2.1. Ngành nghề kinh doanh phải có xác nhận về vốn pháp định

3.2.2. Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

3.3. Điều kiện kinh doanh không cần giấy phép

3.3.1. Cơ sở pháp lý

3.3.2. Điều kiện đáp ứng

PHẦN 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH

4.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh

4.2. Rà soát và loại bỏ, chuyển đổi những quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh không phù hợp

4.3. Kiểm soát việc ban hành quy định về điều kiện kinh doanh

4.4. Công khai minh bạch hóa các quy định về điều kiện kinh doanh

PHẦN 5: KẾT LUẬN

Giảng viên hướng dẫn đề nghị (nếu có)

  • Họ và tên Giảng viên hướng dẫn: ……………………………………………………………………………
  • Điện thoại liên lạc:………………………………………………………………………………………………….
  • Địa chỉ liên lạc:……………………………………………………………………………………………………….
  • Email:……………………………………………………………………………………………………………………..

                                                                                                                                                            Tp. HCM, ngày      tháng    năm 20

                                                                                          SINH VIÊN THỰC HIỆN

                                                                                              (Ký, ghi rõ họ và tên)

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh – Thực Trạng Và Giải Pháp

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài ABC, các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

 

 

Pháp Luật Về Xử Lí Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Đất Đai

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI UBND PHƯỜNG PHÚ HỮU, QUẬN 9, TP.HCM

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, văn minh, quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập và bảo vệ vốn đất như ngày nay. Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, không thể thay thế và di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con người. Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng tài nguyên quý giá này một cách hợp lý không những có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước mà còn đảm bảo cho mục tiêu chinh trị và phát triển xã hội.

Đất đai luôn là yếu tố không thể thiếu được đối với bất cứ quốc gia nào. Ngay từ khi loài người biết đến chăn nuôi, trồng trọt, thì vấn đề sử dụng đất đai không còn đơn giản nữa bởi nó phát triển song song với những tiến bộ của nền khoa học kỹ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị. Do đó, việc quản lý đất đai luôn là mục tiêu Quốc gia của mọi thời đại nhằm nắm chắc và quản lý chặt quỹ đất đai đảm bảo việc sử dụng đất đai tiết kiệm và có hiệu quả.

Với vai trò đặc biệt quan trọng như thế, các chính sách, pháp luật về quản lý đất đai góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hạn chế những tiêu cực nảy sinh, phòng, chống vi phạm, phát huy các nguồn lực to lớn của đất đai, ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và hội nhập quốc tế. Một trong các biện pháp, công cụ quản lý hữu hiệu, được nhà nước sử dụng là ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai như: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai để xử lý, đảm bảo tính răn đe với những hành vi vi phạm về đất đai chưa đến mức nguy hiểm phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì luôn tiềm ẩn những quan hệ pháp luật, những hành vi vi phạm cần được điều chỉnh. Mặc dù hệ thống pháp luật về đất đai đã được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ nhưng trong quá trình áp dụng, triển khai trên thực tế không tránh khỏi những bất cập, chồng chéo, không thống nhất, đồng bộ do sự thay đổi nhanh chóng về các quan hệ dân sự, kinh tế qua các thời kỳ dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật về đất đai diễn ra phức tạp, tinh vi, có nhiều trường hợp lợi dụng chính sách để trục lợi.

Để có cái nhìn toàn diện, xét trên cả phương diện cơ sở lý luận khoa học, pháp lý và thực tiễn áp dụng về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai; bảo đảm cho các quy định trong lĩnh vực này đi vào thực tiễn, nhằm ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và thể hiện tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, xuất phát từ thực tiễn công việc đang đảm nhận, tôi chọn đề tài: “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai từ thực tiễn thực hiện tại UBND Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM” làm khóa luận tốt nghiệp.

  1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai hiện hành để đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hạn chế các hành vi vi phạm hành chính, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý đất đai trên địa bàn Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và quy định pháp luật về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Phân tích thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính về đất đai ở Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trong thời gian tới.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; tìm hiểu về thực tiễn áp dụng các quy định xử lý vi phạm hành chính về đất đai trên địa bàn Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Từ năm 2015 (sau khi Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực vào tháng 7/2013, Thông tư 10/2015/TT-BTP ngày 31/8/2015 của Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật có hiệu lực ngày 15/10/2015, nay bị thay thế bởi Thông tư số 16/2018/TT-BTP ngày 14/12/2018) đến tháng 7/2020.

Về nội dung và không gian:

Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu một vấn đề cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

  1. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

4.1. Phương pháp luận

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời dựa trên quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, về quản lý nhà nước đối với đất đai, trong đó có xử lý vi phạm hành chính về đất đai nói riêng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của Triết học Mác – Lênin; kết hợp với các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê…

  1. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm ba chương.

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1.1. Lý luận về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.1.2.Sự cần thiết khách quan phải xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.1.3.Phân loại các trường hợp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.1.4.Mục đích, ý nghĩa của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.2.Lý luận pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.2.1.Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.2.2. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.2.3.Cơ cấu pháp luật điều chỉnh của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI PHƯỜNG PHÚ HỮU, QUẬN 9, TP.HCM

2.1. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

2.1.1. Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

2.1.2. Các hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

2.1.3. Trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

đất đai

2.1.4. Giải quyết khiếu nại về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

2.2. Thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

đất đai tại Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

2.2.1. Tổng quan chung tình hình xử lý vi phạm hành chính về đất đai trên địa

bàn Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

2.2.2. Một số nhận định, đánh giá về tình hình xử lý vi phạm hành chính trong

lĩnh vực đất đai trên địa bàn Phường Phú Hữu, quận 9, TP.HCM

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh

vực đất đai

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

đất đai

3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

KẾT LUẬN

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Pháp Luật Xử Lí Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Đất Đai

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài ABC, các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Áp Dụng Pháp Luật Trong Công Tác Phòng Chống Tác Hại Của Rượu Bia Tại Thành Phố HCM

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LỜI MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 25/10/2017, Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh việc “Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá”, “Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các hàng hóa có hại cho sức khỏe như đồ uống có cồn, có ga, thuốc lá để hạn chế tiêu dùng”, “Phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khỏe; hoàn thành trước thời hạn một số mục tiêu”; đồng thời, Nghị quyết giao Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Trước thực trạng rượu, bia ngày càng gia tăng ảnh hưởng bất lợi đối với sức khỏe, xã hội, kinh tế và cần có cơ chế quản lý khác với các hàng hóa thông thường theo hướng phòng ngừa, hạn chế tác hại ngay từ khi con người tiếp cận sản phẩm này.

Đối với sức khỏe, bằng chứng khoa học quốc tế cho thấy rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp của 30 bệnh, chấn thương và là nguyên nhân gián tiếp của ít nhất 200 loại bệnh tật nằm trong danh mục phân loại bệnh tật quốc tế ICD10 (một số tên bệnh đã có từ rượu như: loạn thần từ rượu, xơ gan do rượu, hội chứng rượu bào thai…), là một trong bốn yếu tố nguy cơ chính đối với các bệnh không lây nhiễm. Theo Tổ chức Y tế thế giới, sử dụng rượu, bia gây tổn thương đến nhiều cơ quan, chức năng của cơ thể như: gây ung thư (gan, khoang miệng, thanh quản, thực quản, tụy, thận, đại – trực tràng, vú); gây rối loạn tâm thần kinh (loạn thần, trầm cảm, rối loạn lo âu, giảm khả năng tư duy); bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ); bệnh tiêu hóa (tổn thương gan, xơ gan, viêm tụy cấp tính hoặc mạn tính); ảnh hưởng tới chất lượng giống nòi và phát triển bào thai; suy giảm miễn dịch… Tại Việt Nam, rượu, bia xếp thứ 05 trong 15 yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe hàng đầu. Bên cạnh đó, tổn hại sức khỏe do ngộc độc rượu, bia, trong đó có rượu, bia không đảm bảo chất lượng, không kiểm soát được nguồn gốc, rượu pha từ cồn công nghiệp cũng là vấn đề đáng lưu tâm.

Đối với gia đình và xã hội, hệ lụy do sử dụng rượu, bia gây ra nghiêm trọng hơn nhiều so với hút thuốc, bao gồm: tai nạn giao thông, chấn thương, bạo lực gia đình, mất an ninh, trật tự, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Tại Việt Nam, rượu, bia là một trong ba nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ tai nạn giao thông ở nam giới độ tuổi 15 – 49. Nghiên cứu của WHO phối hợp với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia trên 14.990 nạn nhân tai nạn giao thông nhập viện tại 06 địa phương (các thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; các tỉnh: Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Bình Dương) từ tháng 7/2009 đến tháng 10/2010, thì có 28% người đi xe máy có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép, 63,4% người lái ô tô có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép. Theo số liệu thống kê của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân năm 2015, trung bình mỗi năm Việt Nam có 15.000 người chết vì tai nạn giao thông, trong đó 4.800 trường hợp có liên quan đến rượu, bia. Hàng năm có khoảng 800 ca tử vong do bạo lực có liên quan đến sử dụng rượu, bia; gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội có liên quan đến sử dụng rượu, bia; vi phạm pháp luật hình sự liên quan đến rượu, bia trong độ tuổi trước 30 chiếm tới 70%. Nhiều hộ gia đình Việt Nam đang đối mặt với các vấn đề liên quan đến rượu, bia: 11% hộ gia đình xảy ra bạo lực gia đình mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em. Tỷ lệ trẻ em Việt Nam chịu tác hại từ việc sử dụng rượu, bia của người khác thuộc nhóm 2 nước cao nhất.

Hiện nay, tình trạng người dân ở các khu vực kém phát triển hơn uống rượu, bia ở mức có hại là yếu tố góp phần gia tăng khoảng cách giàu, nghèo. Tác hại từ việc sử dụng rượu, bia của người lớn đối với trẻ em được ghi nhận phổ biến hơn đối với các hộ gia đình ở nông thôn, thu nhập thấp và có nhiều người sử dụng rượu, bia. Phụ nữ và trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số đang là đối tượng gánh chịu tác hại từ việc sử rượu, bia, trong đó, người dân tộc thiểu số chịu hậu quả cao gấp 3 đến 4 lần so với người Kinh.

Đối với kinh tế, sử dụng rượu, bia có thể gây ra gánh nặng kinh tế đối với cá nhân, gia đình và toàn xã hội do liên quan đến các phí tổn về chăm sóc sức khỏe, giảm hoặc mất năng suất lao động và giải quyết các hậu quả xã hội khác. Chi tiêu cho rượu, bia chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi tiêu của hộ nghèo và là nguyên nhân làm cho tình trạng nghèo đói tăng thêm. Theo thống kê của WHO, phí tổn kinh tế do rượu, bia chiếm từ 1,3% – 3,3% của mỗi quốc gia, trong đó, chi phí gián tiếp thường nhiều hơn gấp hai lần chi phí trực tiếp. Tại Việt Nam, phí tổn kinh tế do rượu, bia ước tính khoảng 65.000 tỷ đồng (1,3% GDP), gấp trên 1.5 lần mức đóng góp cho ngân sách nhà nước của ngành sản xuất rượu bia, nước giải khát. Chi phí của người dân cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia của Việt Nam năm 2017 là gần 4 tỷ USD.

Những năm trở lại đây thì công tác phòng chống bia rượu của nhà nước ta trở nên thường xuyên hơn. Với những tính chất ưu việt và tầm quan trọng nêu trên, phòng chống tác hại rượu bia trở thành một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội – nhất là trong nền kinh tế hàng hoá với cơ chế mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và thế giới như hiện nay. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động phòng chống tác hại rượu bia ở nước ta diễn ra với nhiều phức tạp. Thực trạng phòng chống tác hại rượu bia ở nước ta vẫn diễn ra nhiều khó khăn, vướng mắc. Đây cũng là lý do chứng minh cho sự cần thiết để nghiên cứu tìm hiểu bản chất pháp lý phòng chống tác hại rượu bia so với những hợp đồng dân sự khác trong hệ thống pháp luật đất đai ở nước ta hiện nay. Sự nhận thức đầy đủ các quy định về phòng chống tác hại rượu bia là điều hoàn toàn cấp thiết trong hoạt động thực tiễn khi thực hiện pháp luật và vận dụng pháp luật trong hoạt động áp dụng trong thực tế. Quá trình áp dụng thực tiễn thi hành phòng chống tác hại rượu bia có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các chủ thể trong đời sống kinh tế xã hội. Vì vậy, nghiên cứu về đề tài “Thực trạng áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia” là một việc làm cần thiết và cấp bách góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia, nâng cao  hiệu quả áp dụng pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia ở nước ta hiện nay.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được đề ra ở trên, tôi mong muốn cung cấp cho người đọc một cách tổng thể các quy định về phòng chống tác hại rượu bia. Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực trạng thực thi những quy định về pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia để có thể đánh giá được mức độ bảo vệ của các quy định pháp luật trong thực tiễn áp dụng ở Việt Nam. Đồng thời dựa vào thực trạng đó để nghiên cứu về nguyên nhân của thực trạng trên từ đó đưa ra những giải pháp để tháo gỡ vướng mắc còn tồn tại.

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia, cụ thể như sua:

– Các vấn đề lý luận chung nhất về phòng chống tác hại rượu bia như khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của hoạt động phòng chống tác hại rượu bia theo quy định của pháp luật hiện hành.

– Nội dung những quy định về phòng chống tác hại rượu bia theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Thực tiễn áp dụng về phòng chống tác hại rượu bia trong thực tế. Qua đó, đưa đánh giá thực trạng, tìm hiểu những hạn chế và khó khăn trong quá trình áp dụng.

– Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

* Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia là một lĩnh vực tương đối rộng và phức tạp thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, tác giả đi sâu vào nội dung này ở một số khía cạnh sau: Vấn đề phòng chống tác hại rượu bia quy định trong pháp luật được quy định tại Luật phòng chống tác hại rượu bia và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đồng thời, phạm vi nghiên cứu được gói gọn quá trình thực hiện phòng chống tác hại rượu bia ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2015-2019.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà khóa luận tốt nghiệp đặt ra, trong quá trình nghiên cứu khóa luận đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo đó, người viết đặt các vấn đề về phòng chống tác hại rượu bia trong mối liên hệ, quan hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh với các quy định của pháp luật về vấn đề này.

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn dãi: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam  về phòng chống tác hại rượu bia . Ví dụ như đối với quy định về chủ thể, nội dung của pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia, tác giả đã vận dụng hai phương pháp này để chỉ rõ những quy định của pháp luật về PCTHRB, đồng thời phân tích rõ lý do vì sao lại quy định như vậy.

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác…

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến PCTHRB, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện. Cụ thể như trên cở sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó…

Ngoài những phương pháp trên, luận văn còn sử dụng phương pháp liệt kê, phương pháp khảo sát…

  1. Kết cấu của đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận tốt nghiệp gồm 3 chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại của rượu bia
  • Chương 2: Thực trạng áp dụng trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại của rượu bia tại thành phố Hồ Chí Minh
  •           Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong công tác đấu trnah phòng chống tác hại của rượu bia tại thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA

1.1. Khái niệm, đặc điểm về áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại của rượu bia

1.1.1. Khái niệm

Quá trình cải cách tư pháp hiện nay thì cùng với hoạt động xây dựng và triển đất nước hiện nay thì việc phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia với các chủ trương, đường lối quan trọng của Đảng và nhà nước khi tiến tới hoàn thiện nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở hình thành các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong đời sống xã hội là một chức năng quan trọng của nhà nước trong thời kỳ mới. Thực tiễn hiện nay đã khẳng định việc xuất hiện các tội phạm xâm phạm các quan hệ, quyền lợi của các chủ thể nói chung cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, cùng với việc xử lý các hành vi vi phạm thì công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia nói chung cần được chú ý.

Sau hơn 30 năm đổi mới cùng với sự thay đổi của nền kinh tế thì sự chuyển biến trên tất các lĩnh vực của đời sống xã hội đã đem lại những kết quả quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Trong quá trình đó, thực hiện nghiêm túc yêu cầu trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm và trật tự xã hội được đặt ra là một trong những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó, góp phần trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này được đặt ra trong hoàn cảnh yêu cầu kiện toàn hệ thống pháp lý về an toàn công cộng, trật tự công cộng để từ đó làm nền tảng cho quá trình xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ và tích cực hơn nữa trong công tác đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có liên quan đến rượu bia, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và trật tự an toàn công cộng nói riêng. Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tốt nhiệm vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, yêu cầu này càng được đề cao trong thời kỳ Đảng và Nhà nước ta tiến hành đổi mới và thực hiện hoạt động cải cách tư pháp, kiện toàn và phát triển các cơ quan tiến hành tố tụng theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. N gày 25/10/2017 Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, trong đó đã nhấn mạnh việc “Thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giảm tiêu thụ rượu, bia, thuốc lá”, “Tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các hàng hoá có hại cho sức khoẻ như đồ uống có cồn, có ga, thuốc lá để hạn chế tiêu dùng”, “Phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc về sức khoẻ; hoàn thành trước thời hạn một số mục tiêu”.

Tuy nhiên, hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia nói chung và các vụ án hình sự bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn nhiều điểm bất cập. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoạch định, xây dựng và ban hành hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh. Pháp luật giải quyết các vụ án vi phạm quy định khi tham gia giao thông của TAND cấp huyện được cấu thành bởi hệ thống quy phạm pháp luật được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp, Luật, cho đến những văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ, các Bộ, ban ngành hay chính quyền địa phương ban hành.

Theo Từ điển Luật học ghi nhận: “Áp dụng pháp luật là hành vi của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức có thẩm quyền hay một tổ chức được giao quyền, căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết một vụ tranh chấp hình sự, dân sự, kinh tế…từ đó xác dịnh quyền hoặc nghĩa vụ của công dân. Việc áp dụng pháp luật phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”[6]. Xuất phát từ khái niệm phòng chống tác hại rượu bia có thể đưa ra khái niệm: áp dụng trong đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia là hoạt động của cơ quan có thẩm quyềnm người có thẩm quyền áp dụng quy định của pháp luật phòng chống tác hại rượu bia và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân trong tình hình mới ở nước ta hiện nay. Thông qua đó, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống tác hại rượu bia ở nước ta nói chung trong giai đoạn hiện na.

1.1.2. Đặc điểm

Từ khái niệm áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia, chúng ta có thể rút ra các đặc điểm cơ bản như sau:

  • Thứ nhất: Hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia ra đời và phát triển gắn liền với yêu cầu hoàn thiện chế định QLNN, quản lý trật tự xã hội và là bộ phận của hệ thống pháp luật trật tự quản lý Việt Nam. Hoạt động về áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia có mối liên hệ mật thiết với các quy định pháp luật trật tự quản lý xã hội ở nước ta hiện nay, điều này hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay. Điều này khẳng định thể chế hóa quan điểm, chính sách của Đảng về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Với quan điểm sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội và nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao sức khoẻ cả về thể chất, tinh thần và xã hội, chú trọng đến tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam, ngày 25/10/2017 Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 20-NQ/TW về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới,
  • Thứ hai: Áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia là một hình thức của áp dụng pháp luật trong tăng cường QLNN về kiểm soát tình hình sử dụng rượu, bia ở Việt Nam đang ở mức cao và có xu hướng gia tăng nhanh bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Bằng hoạt động của mình, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các quy định pháp luật nhằm đảm bảo cá nhân, tổ chứcnghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng tác hại của rượu bia và các vi phạm pháp luật khác. Với vai trò của mình, các cơ quan chức năng, người có thẩm quyền là các chủ thể được Nhà nước trao quyền trong việc nhân danh nhà nước đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh và đúng quy định pháp luật.
  • Thứ ba: Áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia trong quá trình thực hiện phải tuân thủ các quy định được pháp luật về dân sự, hành chính, hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Để giải quyết các hành vi vi phạm về phòng chống tác hại của rượu bia thì phải thông qua một trình tự, thủ tục nhất định đảm thực hiện giải quyết và tiến hành xử lý các hành vi vi phạm nhằm đảm bảo tính đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện quan trọng để áp dụng các quy định về xử lý vấn đề này một cách nghiêm túc và mang tính chất triệt để, nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình áp dụng.
  • Thứ tư: Trình tự, thủ tục áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia được pháp luật qui định theo trình tự thủ tục theo thực tiễn . Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung nên khi bản án áp dụng pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tác hại rượu bia có hiệu lực pháp luật thì ra bản án thì đảm bảo tính bắt buộc các cá nhân, tổ chức phải nghiêm túc thực hiện, nếu không tự nguyện thực hiện thì bị chịu trách nhiệm trước pháp luật nói chung.
  • Thứ năm: Áp dụng pháp luật công tác phòng chống tác hại rượu bia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích của công dân, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chung của xã hội. Chức năng của pháp luật là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể và quyền lợi của Nhà nước, cũng thông qua việc thực hiện các quy định đảm bảo xử lý các trường hợp vi phạm. Nếu phát hiện các chủ thể trốn tránh nghĩa vụ đối với Nhà nước thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ theo đúng quy định.

1.2. Vai trò của việc áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia

Nghị quyết số 49/NQ ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 111/2015/NQ13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội 13 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của TAND nhân dân và công tác thi hành án năm 2016 và các năm tiếp theo đã đề ra yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới như phải bảo đảm tính dân chủ và tính khách quan trong hoạt động tư pháp, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc hiến định như mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia hiện nay của ngành Tòa án là một nội dung cụ thể, quan trọng của hình thức áp dụng pháp luật nói chung. Việc thực hiện áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt động xét xử có vai trò hết sức quan trọng, điều này được thể hiện trên một số phương diện sau:

Một là, thông qua hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia góp phần ngăn ngừa tội phạm và điều này cũng thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước vì hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là công khai là biểu hiện tập trung nhất của nền tư pháp Việt Nam, là một trong những thước đo quan trọng về các vấn đề pháp chế, dân chủ, công lý, công bằng xã hội của xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Vì vậy, hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia có vai trò to lớn trong việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những hành vi vi phạm pháp luật đều đảm bảo được xử lý một cách nghiêm khắc, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Việt Nam khi các hành vi đó xâm phạm nghiêm trọng đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia có vai trò khắc phục và chấm dứt những hành vi vi phạm pháp luật, khôi phục lại trật tự pháp luật trong các lĩnh vực bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm, truy cứu trách nhiệm pháp lý các chủ thể đã có hành vi vi phạm theo đúng các quy định của pháp luật trong thực tế.

Hai là, thông qua áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia thì tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có những biện pháp phòng ngừa tội phạm có hiệu quả. Thông qua hoạt động này thì các cơ quan NN có thẩm quyền có thể đánh giá, ý thức pháp luật của công dân để từ đó có những biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật phù hợp đảm bảo cho công tác phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả cao. Qua công tác này chúng ta có thể phần nào có nhận xét về tính hiệu quả, chính xác, kịp thời, đúng pháp luật về hoạt động của cơ quan hành pháp để đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan này trong công tác áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để nói rằng thông qua hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia chúng ta có thể xác định được mức độ của việc tôn trọng và tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội để từ đó đề ra các giải pháp mang tính thiết thực và khả thi nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong đời sống xã hội nói chung và hoạt động phòng ngừa tội  phạm nói riêng

Ba là, thông qua áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia nói chung thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có vai trò to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và góp phần trong công tác xây dựng các chính sách về quản lý xã hội nói riêng.

Bốn là, thông qua hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia; nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân bằng những vụ việc cụ thể, đặc biệt là thông qua các hoạt động xử lý vi phạm trong quản lý nhà nước. Thông qua đó, quyết định các bản án phù hợp với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà một người đã thực hiện, đồng thời là việc tiến hành tổng thể các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan nhằm tiến tới việc thủ tiêu các nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay.

1.3. Ý nghĩa của việc áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia

Áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia là phương thức phù hợp với cơ chế kinh tế mới, nó bảo đảm cho các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động áp dụng các quy định trong thực tế được đối xử bình đẳng với nhau trước pháp luật, đáp ứng được nhu cầu áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia cho các chủ thể tham gia trong đời sống kinh tế. Ở Việt Nam, sự xuất hiện của các quy định này này đã mang lại những ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội như sau:

Thứ nhất, các quy định này được thực hiện trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể, đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động quản lý của nhà nước. Điều này càng khẳng định vai trò nâng cao và tôn trọng quyền công dân, quyền con người – quyền này được quy định trong đạo luật tối cao của Việt Nam, đó là Hiến pháp, đồng thời góp phần phát huy tính dân chủ, khách quan trong quá trình quản lý nhà nước nói chung.

Thứ hai, Tòa án áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia luôn mang lại những lợi ích thiết thực cho các chủ thể, tạo cơ hội cho các bên đảm bảo cho các chủ thể trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong thực tế. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để giúp các bên có được sự công bằng và thỏa mãn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đồng thời, thông qua hoạt đông này sẽ đáp ứng nhu cầu áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia một cách nhanh – gọn cho các chủ thể, từ đó góp phần phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Thứ ba, phương thức này cũng là một trong những biện pháp mà Nhà nước sử dụng để nhằm bảo vệ sự an toàn trong các hoạt động trật tự quản lý công cộng, góp phần quản lý xã hội, quản lý kinh tế bằng pháp luật. Việc giải quyết tốt mối quan hệ phát sinh trong hoạt động về trật tự quản lý xã hội là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bởi nó sẽ tháo bỏ các rào cản trong quản lý kinh tế – xã hôi và lập lại sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau cho các chủ thể tham gia hoạt động này.

Thứ tư, thông qua việc áp dụng phương thức này trong thực tiễn kinh doanh sẽ chỉ ra được những bất cập trong việc quy định của pháp luật và tạo định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật, tạo hàng lang pháp lý cho hoạt động trật tự quản lý xã hội ngày càng phát triển. Đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bianhanh chóng kịp thời, chính xác, nghiêm minh, đúng pháp luật. Đảm bảo các cho hoạt động áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia được thực thi một cách nghiêm chỉnh đúng pháp luật. Đồng thời, bảo đảm đến mức tối đa sự gián đoạn trong hoạt động quản lý về trật tự quản lý trật tự quản lý  kinh tế- xã hội trong thực tế.

1.4. Pháp luật về phòng chống tác hại của rượu bia của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

* Pháp luật về phòng chống tác hại của rượu bia của một số nước trên thế giới

Tại Hoa kỳ: Các khóa học đào tại lái xe cũng đã cung cấp cho người học những kiến thức nhất định về một số loại thức ăn, thuốc tân dược, ảnh hưởng của rượu cồn, ma túy… đến hoạt động lái xe và học viên bắt buộc phải được học và kiểm tra trong phần thi lý thuyết. Luật Mỹ quy định muốn mua rượu bia, mọi người đều phải xuất trình thẻ ID (như thẻ căn cước công dân) và các cửa hàng chỉ bán rượu cho những người trên 21 tuổi. Trong khi đó, ở hầu hết các bang của Mỹ, người bị quy vào tội lái xe trong tình trạng say xỉn đều bị xử lý hình sự. Người vi phạm lần đầu với nồng độ cồn từ 0,08 – 0,18% có thể bị phạt 500 – 1.000 USD, phạt tù tới 12 tháng và tước bằng lái xe 6 tháng. Mức phạt cho người vi phạm lần đầu có nồng độ cồn trên 0,18% là nộp phạt tối thiểu 1.000 USD, phạt tù tối thiểu 12 tháng, thu hồi bằng một năm và bị buộc lắp đặt thiết bị kiểm tra nồng độ cồn trước khi được phép khởi động xe. Đối với những tài xế tái phạm hơn 3 lần khiến người khác bị thương hay gây tai nạn chết người, bản án có thể từ 10 năm tù đến chung thân, tước bằng lái vĩnh viễn, tịch thu phương tiện, hủy đăng ký xe.

Một số quốc gia ở Châu Âu: Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), 0,05% là mức giới hạn nồng độ cồn cho phép với tài xế phổ biến ở nhiều quốc gia. Một số nước như Na Uy, Ba Lan và Thụy Điển có giới hạn thấp hơn là 0,02%. Nga cũng quy định nồng độ cồn cho phép là 0,02% và người bị kết án lái xe sau khi đã uống rượu, dù chỉ một lần, sẽ bị tước bằng lái vĩnh viễn. Lệnh cấm hoàn toàn sử dụng đồ uống có cồn trước khi lái xe được Cộng hòa Czech áp dụng từ năm 1953. Có 3 mức độ vi phạm tùy thuộc nồng độ cồn của lái xe. Ở mức 0 – 0,03%, lái xe bị phạt 500 – 700 euro và tước bằng lái đến 6 tháng.Tại Hungary cũng áp dụng quy định tương tự từ năm 2018. Với nồng độ cồn 0 – 0,08%, tài xế có thể bị cấm điều khiển phương tiện nhiều nhất 3 năm và số tiền phạt có thể lên tới 3.000 euro.Ở Slovakia, luật pháp nước này quy định tài xế có nồng độ cồn từ 0 – 0,01% bị xử lý hình sự với mức phạt tiền 200 – 1.000 USD và phạt tù tới 12 tháng. Một số nước khác như: Croatia, Romania, Bỉ, Pháp, Phần Lan cũng là các quốc gia áp dụng chính sách “zero tolerance” với tài xế sử dụng đồ uống có cồn trước khi tham gia giao thông.

Canada: Luật Hình sự Canada quy định ở lần vi phạm đầu tiên với nồng độ cồn trong máu vượt quá 0,04%, tài xế bị buộc nộp phạt 1.000 USD. Nếu tái phạm lần 2, người lái xe bị buộc ngồi tù 30 ngày. Nếu vi phạm lần thứ 3, hình phạt tăng lên 120 ngày tù. Mức án cao nhất dù phạm tội lần đầu tiên hay tái phạm đều là 10 năm tù. Ở Canada, tài xế say rượu bia gây thương tích cho người khác đối diện mức án dao động từ 2 – 14 năm tù tùy mức độ. Với hành vi lái xe gây chết người do sử dụng bia rượu, mức án cao nhất là tù chung thân và buộc nộp phạt 1.000 – 2.000 USD tùy nồng độ cồn trong máu. Ngay cả trường hợp tài xế từ chối yêu cầu thử nồng độ cồn từ cảnh sát, lực lượng tuần tra, thi hành công lý cũng bị phạt với mức tối thiểu 50 USD.

* Nhật Bản: Nhật Bản là nước có khung hình phạt nghiêm khắc vào loại nhất ở châu Á cũng như trên thế giới với các tội liên quan đến uống rượu bia và lái xe. Với nồng độ cồn từ 0,15 mg/lít khí thở (tương đương với 1 ly bia), người điều khiển xe bị quy vào lỗi “lái xe trong điều kiện không tỉnh táo”, bị phạt tù lên tới 3 năm và 500.000 Yen (khoảng 4.500 USD). Nếu CSGT Nhật Bản phát hiện tài xế lái xe trong tình trạng say rượu, người vi phạm có thể bị phạt tới 5 năm tù và 1 triệu Yen (khoảng 200 triệu đồng). Nếu phương tiện của lái xe say rượu hoặc không tỉnh táo chở theo hành khách, hành khách cũng bị xử phạt tiền hoặc thậm chí ngồi tù. Những lái xe không tuân thủ yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn có thể bị áp dụng mức phạt tương đương hoặc hơn tội lái xe trong tình trạng say rượu. Nhật Bản quy định những hình phạt cho tội lái xe say rượu gây tai nạn là 20 năm đối với tai nạn chết người và 15 năm đối với tai nạn không chết người. Ở Nhật Bản, người đi xe đạp cũng chịu những chế tài về rượu bia như người lái ôtô để đảm bảo an toàn.

* Singapore: Tại Singapore, nếu bị phát hiện có nồng độ cồn trên 0,35 mg/lít khí thở, người điều khiển phương tiện sẽ bị phạt tiền lên đến 5.000 SGD (tương đương 3.600 USD) và đối diện với 6 tháng tù giam. Những lỗi nặng nhất sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đối diện với các hình phạt tù và lao động công ích. Đối với các hành vi tái phạm nhiều lần, hình phạt cũng sẽ tăng thêm. Singapore phạt tù từ 6 – 12 tháng và phạt tiền từ 3.000 – 10.000 SGD (từ 50 – 130 triệu đồng) đối với tài xế tái phạm lần thứ 2 và phạt 30.000 SGD (510 triệu đồng) và 3 năm tù, tước bằng lái vĩnh viễn đối với tài xế phạm lỗi lần thứ 3.

* Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thông qua việc nghiên cứu các kinh nghiệm nước ngoài và một số tỉnh thành phố ở nước ta trong công tác quản lý nhà nước về áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia thì ta có một số bài học kinh nghiệm đối với hoạt động này như sau:

Thứ nhất, Các ngành chức năng cần rà soát hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý có liên quan tới công tác quản lý kiểm soát áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang được hiện thực hoá trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước và các thiết chế xã hội. Điều quan trọng cần được nhấn mạnh khi nói về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà chúng ta chủ trương xây dựng, chính là sự vận dụng về cơ bản toàn bộ các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền nói chung và những giá trị riêng của một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong nhà nước pháp quyền thì việc xây dựng, tuân thủ và thực hiện pháp luật là điều rất quan trọng. Thông qua pháp luật thì NN ta thực hiện chức năng quản lý nhà nước và dùng pháp luật như là một công cụ quan trọng trong quá trình này. Nước ta đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu bởi nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Do vậy, quyền và lợi ích của nhân dân luôn được NN ta quan tâm chú ý. Vấn đề TTXH nói chung và áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia nói riêng cũng được xây dựng trên nguyên tắc này.

Có thể nói rằng việc xây dựng và ban hành các quy định về áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia là thể hiện chức năng quản lý NN trong lĩnh vực này, song đây cũng là việc thể hiện quyền và lợi ích cho các đối tượng được pháp luật điều chỉnh. Một bước tiến quan trọng của việc hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này đó là việc ban hành Luật phòng chống tác hại rượu bia về kiểm soát việc áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia. Tuy nhiên, cần nhìn nhận một cách khách quan rằng, hiện nay các quy định về vấn đề này còn tản mạn và quá trình thực hiện chưa đạt hiệu quả cao. Hệ thống pháp luật về áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia nước ta vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu…Đứng trước yêu cầu đó thì việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về vấn đề này cần được cấp bách thực hiện.

Thứ hai, đẩy nhanh công tác áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia ở nước ta đi vào thực tiễn có hiệu quả, thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm

Thứ ba, có sự phối hợp chặt chẽ đồng bộ giữa các bên liên quan trong việc thanh tra giám sát việc thực hiện quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia ở nước ta hiện nay.

Thứ tư, tổ chức thường xuyên các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về

Tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo, tập huấn cho các cán bộ quản lý về giết mổ và các cơ sở tham gia giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn các huyện, thị xã; Giao Chi cục Thú y địa phương tiếp tục hướng dẫn, thẩm định thiết kế cơ sở giết mổ đối với các tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở giết mổ đảm bảo đáp ứng các tiêu chí về điều kiện vệ sinh thú y, vệ sinh TTXH và vệ sinh môi trường theo quy định. Trung tâm Phát triển chăn nuôi hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ, tổng hợp kinh phí hỗ trợ và chi trả các cơ sở giết mổ đảm bảo điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ của Thành phố theo quy định.

Có thể nói, các quy định về áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia được pháp luật quy định là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thiết lập hành lang pháp lý trong công tác quản lý về sử dụng thực phẩm một cách hợp lý trong xã hội hiện nay. Việc xác định đặc điểm có liên quan đến TTXH qua công tác áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia sẽ hỗ trợ một phần lớn trong việc thiết lập các quy phạm pháp luật chặt chẽ nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về TTXH tại Việt Nam. Ngoài ra, với những quy định về vấn đề này đã góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia vào quan hệ được pháp luật điều chỉnh. Ngày nay, trong cơ chế kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, những quy định về TTXH đã phần nào phát huy vai trò và có tác động lớn trong việc góp phần cho sự phát triển cho kinh tế – xã hội của nước ta. Trong tương lai, pháp luật về TTXH với những quy định rõ ràng hơn sẽ tạo thuận lợi cho các bên, tạo hành lang pháp lý trong việc bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hi vọng, những quy định về trong lĩnh vực TTXH nói chung và áp dụng pháp luật trong công tác phòng chống tác hại của rượu bia nói riêng sẽ được áp dụng một cách tốt hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, hình thành nên một nền tảng pháp lý trong lĩnh vực về TTXH nói riêng và pháp luật nói chung, giúp nền kinh tế nước ta phát triển, phù hợp với xu thế phát triển trong khu vực và trên thế giới.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Quy định của pháp luật về phòng chống tác hại của rượu bia

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phòng chống tác hại của rượu bia tại TP HCM

2.2.1. Giới thiệu khái quát về Thành phố HCM

2.2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về phòng chống tác hại của rượu bia tại TP HCM

2.2.2.1. Kết quả đạt được

2.2.2.2. Những hạn chế, tồn tại

2.2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

3.2. Một số nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về phòng chống tác hại của rượu bia tại TP HCM

KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Áp Dụng Pháp Luật Trong Công Tác Phòng Chống Tác Hại Của Rượu Bia 

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài ABC, các bạn có thể liên hệ với mình nhé!

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149