Yêu Cầu Viết Báo Cáo Thực Tập Khoa Kinh Tế Trường ĐH Thăng Long, Hay

Yêu Cầu Viết Báo Cáo Thực Tập Khoa Kinh Tế Trường ĐH Thăng Long, Điểm cao

  1. CẤU TRÚC CỦA BÁO CÁO THỰC TẬP:

Báo cáo thực tập tốt nghiệp (sau đây gọi tắt là Báo cáo) được trình bày trang khổ A4 theo trình tự như sau:

  • – Trang bìa (xem mẫu trang 6)
  • – Trang bìa phụ
  • – Lời cảm ơn
  • – Mục lục (theo mẫu trang 7)
  • – Danh mục các chữ viết tắt (nếu có) (theo mẫu trang 8)
  • – Danh mục các bảng biểu, hình vẽ, đồ thị, công thức… (theo mẫu trang 9)
  • – Lời mở đầu
  • – Nội dung của Báo cáo (trình bày trong 30-40 trang), xem phần Bố cục nội dung của Báo cáo.
  • – Kết luận
  • – Phụ lục (nếu có) (theo mẫu trang 10)
  • – Danh mục tài liệu tham khảo (theo mẫu trang  11)
  • – Nhận xét và xác nhận của đơn vị thực tập (theo mẫu trang  12)
  1. BỐ CỤC PHẦN NỘI DUNG CỦA BÁO CÁO THỰC TẬP
  • Mở đầu: phần này trình bày một cách ngắn gọn lý do sinh viên chọn đơn vị thực tập và chủ đề viết Báo cáo.
  • Phần I: Khái quát về đơn vị thực tập (không quá 5 trang)

Phần này cần trình bày được những nội dung sau:

  • Quá trình hình thành và phát triển của đơn vị thực tập
  • Cơ cấu tổ chức của đơn vị (trình bày dưới dạng sơ đồ)
  • Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận trong sơ đồ cơ cấu tổ chức
  • Lĩnh vực kinh doanh chính
  • Kết quả kinh doanh của đơn vị thực tập trong 2 năm gần đây
    • Nếu đơn vị thực tập là doanh nghiệp thì sinh viên cần phân tích một số chỉ tiêu gồm tổng doanh thu, tổng chi phí, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế
    • Nếu đơn vị thực tập là ngân hàng thì sinh viên cần phân tích một số chỉ tiêu gồm tổng nguồn vốn huy động, tổng dư nợ tín dụng, thu từ hoạt động tín dụng, thu từ dịch vụ khác, lợi nhuận trước thuế.
  • Phần II: Nội dung thực tập (Tiêu đề của phần này gắn với tên đề tài của Báo cáo)

    (từ 20-30 trang)

Trong phần này, sinh viên cần lựa chọn một chủ đề gắn với chuyên ngành học tại trường để tìm hiểu sâu trong quá trình thực tập. Đây là phần quan trọng nhất của Báo cáo. Sinh viên cần làm rõ những kết quả thu được trong quá trình thực tập như việc thu thập số liệu thông tin thực tế tại đơn vị thực tập, những nhận xét đánh giá của sinh viên về điểm mạnh, điểm yếu, kết quả đạt được và hạn chế liên quan đến chủ đề nghiên cứu tại đơn vị thực tập.

  • Phần III: Nhận xét và đề xuất (không quá 5 trang)

Phần này cần tổng hợp được những kết quả mà sinh viên học hỏi được trong quá trình thực tập và đưa ra 1-2 đề xuất cơ bản của cá nhân nhằm khắc phục những hạn chế đã nêu trong phần II.

  1. HÌNH THỨC TRÌNH BÀY

3.1 Trình bày báo cáo

  •  Báo cáo phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, hành văn mạch lạc, in ấn sạch sẽ, không được tẩy xóa, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị, công thức.
  • Thuật ngữ khoa học cần được sử dụng chính xác.
  • Số trang chỉ được đánh số từ mục “Nội dung báo cáo” cho đến “Phụ lục” (nếu có). Lưu ý không ghi chú thêm bất cứ nội dung gì ở đầu và cuối mỗi trang (không ghi gì ở phần footer/header).
  •  Các bảng biểu trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang. Nếu sử dụng bảng biểu giấy khổ A3 thì gấp giấy lại thành các trang có khổ nhỏ hơn A4.
  •   Số thứ tự của các phần, mục và tiểu mục được đánh số bằng hệ thống số Ả-rập, không dùng số La mã. Các mục và tiểu mục được đánh số bằng các nhóm hai hoặc ba chữ số, cách nhau một dấu chấm: số thứ nhất chỉ số phần, số thứ hai chỉ số mục, số thứ ba chỉ số tiểu mục (không nên chia tiểu mục quá 3 chữ số). Ví dụ: Mục 1.2.3 là tiểu mục thứ 3 trong mục 2 thuộc phần 1. Dưới các tiểu mục 3 chữ số, trong trường hợp cần dùng “Bullet”, phải dùng dấu gạch ngang (-), dưới gạch ngang là các dấu cộng (+), không dùng các ký hiệu khác.

3.2 Định dạng văn bản

  •    – Font chữ: Times New Roman-
  •    – Cỡ chữ (size): 13.
  •    – Hệ soạn thảo Unicode.
  •    – Giãn dòng (line spacing) đặt ở chế độ 1,3 lines.
  •    – Lề trên (top) 2 cm, lề dưới (bottom) 2 cm, lề trái (left) 3 cm, lề phải (right) 2 cm.
  •    – Số trang đánh ở giữa bên dưới, trang số 1 bắt đầu từ trang đầu tiên của Phần 1.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp phải đóng bìa mềm màu xanh nước biển (có kèm theo bìa bóng kính ở ngoài cùng).

3.3 Viết tắt

  • Chỉ viết tắt những từ hoặc cụm từ là danh từ, không dài quá và được sử dụng ít nhất 5 lần trong thực tập tốt nghiệp.
  • Viết tắt các từ nước ngoài phải theo quy định quốc tế.
  • Nếu dùng nhiều từ viết tắt, phải lập bảng các chữ viết tắt ở đầu thực tập tốt nghiệp, xếp theo thứ tự ABC của chữ viết tắt.
  • Nếu dùng ít từ viết tắt, có thể viết toàn bộ cụm từ xuất hiện lần đầu với chữ viết tắt trong ngoặc đơn mà không cần lập bảng các chữ viết tắt. Sau đó sử dụng chữ viết tắt này

Ví dụ: Quản trị tài chính doanh nghiệp (QTTCDN) ở Mỹ. Quy định về QTTCDN ở Việt Nam.

3.4. Đánh số thứ tự bảng biểu, hình vẽ, công thức

  • Đánh theo phần và thứ tự của bảng, hình vẽ, đồ thị, công thức trong phần (Ví dụ: Bảng 2.3 là bảng thứ 3 trong phần 2, công thức 3.2 là công thức thứ 2 trong phần 3).
  • Sau số bảng là tên của bảng (Ví dụ: Bảng 2.3. Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc).
  • Chú ý ghi đầy đủ đơn vị tính (nếu có). Thứ nguyên (đơn vị đo lường) cần theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN.
  • Phải ghi nguồn của thông tin trong bảng. Cách ghi giống như trích dẫn tài liệu tham khảo và ghi ở bên dưới bảng, căn lề bên phải.
  • Bảng danh mục bảng biểu, hình vẽ, đồ thị, công thức phải có số trang (giống như mục lục). Nếu Báo cáo  có nhiều công thức thì không cần đưa các công thức này vào bảng danh mục.

3.5 Tài liệu tham khảo

– Chỉ nên thống kê các Tài liệu tham khảo được sử dụng (trích dẫn) trong Báo cáo.

– Xếp Tài liệu tham khảo theo từng ngôn ngữ, tiếng Việt xếp đầu tiên, rồi đến các ngôn ngữ khác (Anh, Nga…).

– Xếp tài liệu tham khảo theo thứ tự ABC, cụ thể:

+ Tác giả người Việt Nam: xếp thứ tự ABC theo tên.

+ Tác giả người nước ngoài: xếp thứ tự ABC theo họ.

+ Tài liệu không có tác giả, coi tên cơ quan ban hành như tác giả và xếp theo chữ đầu của cơ quan đó (Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam xếp theo chữ Đ).

– Đánh số thứ tự liên tục cho toàn bộ tài liệu tham khảo mọi thứ tiếng.

– Trật tự trình bày tài liệu tham khảo là sách:

STT. Tên tác giả (năm công bố), tên sách, nhà xuất bản, nơi xuất bản, trang được trích.

– Trật tự trình bày tài liệu tham khảo là bài viết trong Tạp chí (Kỷ yếu Hội nghị, Hội thảo) hay sách:

STT. Tên tác giả (năm công bố), tên bài viết, tên tạp chí, tập, (số), số các trang đầu và cuối của bài viết.

(Tài liệu tiếng Anh số trang ghi là pg.).

– Đối với tài liệu trực tuyến (online), ghi tên tác giả, tên bài, website và đường dẫn (URL), ngày cập nhật.

– Trích dẫn tài liệu dựa vào số thứ tự của tài liệu trong danh mục tài liệu tham khảo. Ghi số thứ tự tài liệu đó cùng với số trang có nội dung trích dẫn và đặt trong ngoặc vuông.

Ví dụ: [24, tr.59] (tức là tài liệu số thứ tự 24, trang 59 có nội dung trích dẫn).

Ngoài chia sẻ một số “Yêu Cầu Cơ Bản Viết Báo Cáo Thực Tập Khoa Kinh Tế Trường ĐH Thăng Long” thì, mình cũng có chia nhiều bài viết khác. Các bạn xem thêm tại đây: 

  1. VỀ SỐ LIỆU
  • – Số liệu sử dụng trong Báo cáo phải lấy trong ít nhất 2 năm liên tục gần nhất tính tại thời điểm sinh viên đi thực tập.
  • – Nếu trong Báo cáo sử dụng số liệu từ các báo cáo tài chính của đơn vị thực tập thì phần phụ lục phải kèm theo:

+  Báo cáo tài chính có mã vạch và đóng dấu đối với Doanh nghiệp.

+ Báo cáo thường niên dạng in Printscreen đối với  sinh viên thực tập tại Hội sở chính của Ngân hàng.

+ Báo cáo tình hình kinh doanh đối với sinh viên thực tập tại chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng có dấu, chữ ký xác nhận ở trang cuối và dấu giáp lai ở tất cả các trang.

  1. LƯU Ý KHÁC

Một báo cáo của đợt sau giống một báo cáo thực tập của đợt trước sẽ bị loại bỏ. Hai báo cáo thực tập bất kỳ trong cùng một đợt mà giống nhau sẽ cùng bị loại bỏ.

Báo cáo nhất thiết phải có xác nhận (có đóng dấu) của đơn vị thực tập.

Trên đây mình chia sẻ một số “Yêu Cầu Cơ Bản Viết Báo Cáo Thực Tập Khoa Kinh Tế Trường ĐH Thăng Long” đến các bạn sinh viên tham khảo thêm, nếu bạn nào có nhu cần cần dịch vụ viết thuê báo cáo thực tập thì có thể liên hệ với qua sđt zalo: 0909 232 620

Kế Toán Doanh Thu, Tập Hợp Các Khoản Chi Phí, Xác Định Kết Quả Kinh Doanh

Đề tài viết báo cáo thực tập: “KẾ TOÁN VỀ DOANH THU, TẬP HỢP CÁC KHOẢN CHI PHÍ HỢP LÝ, XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH”

Chương I: Tình hình tổ chức kinh doanh và tổ chức kế toán tại công ty TNHH sản xuất Thương mại Dịch vụ XNK SM Socks:

  1. Tình hình tổ chức và Quản lý kinh doanh tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
  • Lịch sử hình thành và phát triển
  • Chức năng nhiệm vụ của Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS

a/ Chức năng

b/ Nhiệm vụ

  • Quy mô Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS

a/ Về Tài sản

b/ Số lượng lao động

c/ Diện tích nhà xưởng

  • Tổ chức bộ máy Quản lý tại Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS

a/ Sơ đồ tổ chức, Bộ máy Quản lý

b/ Chức năng , nhiệm vụ của các bộ phận

  • Một số chỉ tiêu Quản lý và sản xuất kinh doanh Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS

a/ Doanh thu

b/ Lợi nhuận

c/ Các khoản phải nộp vào Ngân sách Nhà nước

  • Thuận lợi, khó khăn và phương huớng phát triển của Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
  1. Tình hình tổ chức công tác Kế toán Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Tổ chức hệ thống chứng từ Kế toán Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Tổ chức hệ thống tài khoản Kế toán Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Tổ chức hệ thống sổ sách Kế toán Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Tổ chức hệ thống Báo cáo Kế toán Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Tổ chức hệ thống Bộ máy Kế toán Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS

a/ Sơ đồ tổ chức bộ máy Kế toán

b/ Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận

Chuơng II: Cơ sở lý thuyết kế toán về doanh thu, tập hợp các khoản chi phí hợp lý, xác định kết quả kinh doanh:

  1. Kế toán Doanh thu:
    • Kế toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

a/ Khái niệm

b/ Nguyên tắc hạch toán

c/ Chứng từ sử dụng

d/ Tài khoản sử dụng

e/ Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ Kinh tế chủ yếu

  • Phương pháp Doanh thu bán hàng nội bộ

a/ Khái niệm

b/ Nguyên tắc hạch toán

c/ Chứng từ sử dụng

d/ Tài khoản sử dụng

e/ Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ Kinh tế chủ yếu

  • Kế toán các khoản làm giảm Doanh thu
    • Chiết khấu thương mại

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Giảm giá hàng bán

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Hàng bán bị trả lại

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Thuế Xuất khẩu, Thuế TT ĐB. Thuế Nhập Khẩu, Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế Toán chi phí Thuế Thu nhập doanh nghiệp

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế toán Doanh thu hoạt động tài chính

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế toán Doanh thu hoạt động tài chính

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  1. Kế toán chi phí
    • Kế toán giá vốn àng b án

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế toán chi phí tài chính

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế toán chi phí bán hàng

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế toán chi phí quản lý Doanh nghiệp

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

  • Kế toán chi phí khác

a/ Khái niệm

b/ Chứng từ sử dụng

c/ Tài khoản sử dụng

d/ Phương pháp hạch toán

Xem thêm:

Chương III: Thực trạng công tác kế toán tại công ty TNHH sản xuất thương mại dịch vụ XNK SM Socks:

  1. Các phương pháp bán hàng áp dụng tại Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
  2. Các kênh bán hàng t ại Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
  3. Kế toán Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
    • Nội dung
    • Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty
    • Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty
    • Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
  4. Kế toán Doanh thu bán hàng nội bộ
    • Nội dung
    • Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty
    • Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty
    • Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
  5. Kế toán các khoản làm giảm Doanh thu
    • Nội dung
    • Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty
    • Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty
    • Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
  6. Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
    • Nội dung
    • Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty
    • Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty
    • Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
  7. Kế toán Doanh thu hoat động Tài chính
    • Nội dung
    • Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty
    • Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty
    • Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
  8. Kế toán thu nhập khác
    • Nội dung
    • Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty
    • Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty
    • Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty
  9. Kế toán chi phí
    • Kế toán giá vốn hàng bán

a/ Nội dung

b/ Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty

c/ Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty

d/ Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty

  • Kế toán chi phí Tài chính

a/ Nội dung

b/ Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty

c/ Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty

d/ Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty

  • Kế toán chi phí bán hàng

a/ Nội dung

b/ Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty

c/ Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty

d/ Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty

  • Kế toán chi phí Quản lý Doanh nghiệp

a/ Nội dung

b/ Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty

c/ Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty

d/ Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty

  • Kế toán chi phí Thuế thu nhập Doanh nghiệp

a/ Nội dung

b/ Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty

c/ Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty

d/ Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty

  • Kế toán xác định kết quả kinh doanh

a/ Nội dung

b/ Chứng từ Kế toán được sử dụng tại Công ty

c/ Các nghiệp vụ phát sinh thực tế t ại công ty

d/ Sổ sách Kế toán được áp dụng tại Công ty

Chương IV: Nhận xét và kiến nghị:

  1. Nhận xét
    • Nhận xét về tình hình Kinh doanh tại Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Nhận xét về tổ chức Kinh doanh tại Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Nhận xét về nội dung đề tài đã chọn
  2. Kiến nghị
    • Kiến nghị về tính liên kết giữa các phần hành Kế toán tại Công Ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
    • Kiến nghị về cách tập hợp chi phí và phân tích tính hợp lý trong một số trường hợp phát sinh
    • Đề xuất của cá nhân về cách tổ chức và nêu lên quan điểm của các nhân về công tác Kế toán trong Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Xuất nhập khẩu SM SOCKS
  3. Kết luận
    • Ưu điểm
    • Nhược điểm

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: KẾ TOÁN VỀ DOANH THU, TẬP HỢP CÁC KHOẢN CHI PHÍ HỢP LÝ, XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Quy Định Pháp Luật Về Bảo Hộ Công Dân Việt Nam Ở Nước Ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

2.1. Quy định pháp luật Quốc tế

2.1.1. Quy định trong công ước Quốc tế

  • 2.1.1.1. Công ước viên về quan hệ ngoại giao 1961

Trong quá trình xây dựng và phát triển các Công ước của Liên hợp quốc thì Công ước Viên về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18/4/1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về Quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao. Bắt đầu có hiệu lực ngày 24/4/1964 là Công ước quốc tế quy định đầy đủ nhất các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Công ước Viên khẳng định mục đích của việc ưu đãi, miễn trừ không để làm lợi cho các cá nhân mà tạo điều kiện thuận lợi để cho các cơ quan đại diện ngoại giao và các nhà ngoại giao thực hiện có hiệu quả các chức năng của họ với tư cách là đại diện cho nước cử. Việc ký kết công ước này sẽ góp phần vào việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước, không phụ thuộc vào chế độ nhà nước và xã hội khác nhau.

Công ước Viên về quan hệ ngoại giao (1961) là Công ước quốc tế quy định đầy đủ nhất các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Công ước Viên khẳng định mục đích của việc ưu đãi, miễn trừ không để làm lợi cho các cá nhân mà tạo điều kiện thuận lợi để cho các cơ quan đại diện ngoại giao và các nhà ngoại giao thực hiện có hiệu quả các chức năng của họ với tư cách là đại diện cho nước cử. Việc ký kết Công ước này sẽ góp phần phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước, không phụ thuộc vào chế độ nhà nước và xã hội khác nhau.

Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao 1961 khẳng định các quyền ưu đãi, miễn trừ không để làm lợi cho các cá nhân mà nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan ngoại giao và nhà ngoại giao thực hiện có hiệu quả chức năng của họ. Công ước này đã góp phần phát triển quan hệ giữa các nước. Các cơ quan lãnh sự và viên chức lãnh sự được hưởng ưu đãi, miễn trừ theo Công ước Viên về quan hệ lãnh sự), về cơ bản tương tự ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Là nước đã tham gia Công ước Viên về quan hệ ngoại giao, Theo quy định của Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao (1961), các cơ quan đại diện ngoại giao một nước trên lãnh thổ của nước sở tại có thẩm quyền “bảo vệ lợi ích quốc gia và của công dân mình trong giới hạn của luật pháp quốc tế” nói chung.

Trên thực tế thì cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài phải thực hiện nhiều biện pháp nhằm thực hiện chức năng bảo hộ cho công dân nước mình. Tuy nhiên, các hoạt động đó phải phù hợp với các quy tắc, quy định của đất nước đã cử và nước đặt trụ sở cơ quan ngoại giao. Việc thực hiện hoạt động ngoại giao phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ngoại giao và các hoạt động được phép thực hiện nhằm đảm bảo cho quá trình giúp đỡ và bảo hộ các công dân ở nước ngoài đạt kết quả cao. Vấn đề thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao còn cho thấy mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau và khi có sự cắt đứt sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các công dân có mối liên hệ, khi quốc gia cắt đứt quan hệ ngoại giao cũng có nghĩa là mối quan hệ giữa hai nước đã xấu đi và từ đó quyền lợi của công dân có thể sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, cơ quan đại diện ngoại giao phải có trách nhiệm duy trì mối quan hệ hữu nghị giữa nước cử và nước tiếp nhận để đảm bảo địa vị pháp lí của công dân mình được ổn định hơn. Đồng thời, cơ quan đại diện ngoại giao trong phạm vi thẩm quyền của mình ở nước sở tại có nhiệm vụ đảm bảo cho các quyền lợi của công dân nước mình được thực hiện và khôi phục lợi ích đã bị vi phạm. Như vậy,

  • 2.1.1.2. Công ước viên về quan hệ Lãnh sự 1963

Công ước Vienna về quan hệ lãnh sự (1963) quy định chức năng và thẩm quyền lãnh sự của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự. Theo quy định của Công ước Vienna 1963 thì có quy định “phù hợp với thông lệ và thủ tục của quốc gia sở tại, (cơ quan lãnh sự) có thể đại diện hoặc thu xếp đại diện thích hợp cho công dân nước mình trước tòa án và các cơ quan chức năng của nước sở tại để yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời phù hợp với pháp luật của quốc gia sở tại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình, trong trường hợp người đó không có người đại diện hoặc vì những lý do mà người đó không thể thu xếp được người đại diện đúng lúc.”

Tại điều 2 Công ước quy định về việc thành lập một cơ quan lãnh sự. Theo đó, khi các bên thiết lập quan hệ ngoại giao thì cũng đồng thời thiết lập quan hệ lãnh sự, trừ khi các bên không muốn như vậy. Trong trường hợp việc thiết lập quan hệ ngoại giao không bao gồm việc thiết lập quan hệ lãnh sự thì việc lập quan hệ lãnh sự giữa các nước được tiến hành theo thoả thuận giữa các nước với nhau. Như vậy, tương tự như việc thành lậpcơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự cũng được thành lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia. Hiện nay, chức năng lãnh sự do cơ quan lãnh sự thực hiện là chủ yếu, nhưng trong một số trường hợp nếu được nước tiếp nhận đồng ý thì cơ quan đại diện ngoại giao cũng có thể thực hiện chức năng của cơ quan lãnh sự và ngược lại, cơ quan lãnh sự cũng có thể thực hiện chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao với điều kiện là “Trong một nước mà nước cử không có cơ quan đại diện ngoại giao và cũng không uỷ nhiệm một cơ quan đại diện ngoại giao của một nước thứ ba làm đại diện” (điều 17 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963). Khác với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự chỉ thực hiện một số chức năng lãnh sự trong một phạm vi nhất định và chỉ liên lạc với chính quyền địa phương tại khu vực lãnh sự (tuy nhiên trong một số trường hợp phù hợp với pháp luật và tập quán của nước tiếp nhận hoặc các điều ước quốc tế có liên quan cho phép, cơ quan lãnh sự có thể liên lạc với nhà chức trách trung ương có thẩm quyền của nước tiếp nhận- điều 38 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963). Vì vậy, Cơ quan lãnh sự là cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước ở nước ngoài, nhằm thực hiện chức năng lãnh sự trong một khu vực lãnh thổ nhất định của nước tiếp nhận, trên cơ sở thỏa thuận giữa hai nước hữu quan[1].

Tại khu vực lãnh sự của mình, cơ quan lãnh sự có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước và công dân của quốc gia nước cử. Cụ thể như: Bảo vệ tại nước tiếp nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, pháp nhân và công dân nước cử, trong phạm vi luật pháp quốc tế cho phép; Giúp đỡ công dân bao gồm cả thể nhân và pháp nhân của nước cử; Phù hợp với thực tiễn và thủ tục hiện hành ở nước tiếp nhận, đại diện hoặc thu xếp việc đại diện thích hợp cho công dân nước cử trước toà án và các nhà chức trách khác của nước tiếp nhận, nhằm đưa ra những biện pháp tạm thời phù hợp với luật và quy định của nước tiếp nhận để bảo vệ các quyền và lợi ích của các công dân đó, nếu vì vắng mặt hoặc vì một lý do nào khác, họ không thể kịp thời bảo vệ các quyền và lợi ích của họ; thực hiện một số chức năng có tính chất hành chính… (Điều 5 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự 1963). Tương tự như Công ước Viên về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự cũng quy định các quyền cần thiết để cho cơ quan lãnh sự hoàn thành tốt chức năng của mình tại nước tiếp nhận. Chẳng hạn như quyền không bị phân biệt đối xữ; Các quyền ưu đãi miễn trừ nhưng phạm vi những quyền này hẹp hơn. Bên cạnh đó cũng quy định nghĩa vụ của nước tiếp nhận phải tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan lãnh sự thực hiện chức năng của mình.

Như vậy, có thể thấy luật pháp quốc tế bảo đảm các cơ quan đại diện của một nước có quyền bảo vệ lợi ích của công dân nước mình, nhưng với điều kiện phải trong giới hạn cho phép của luật pháp quốc tế và phù hợp với thông lệ và pháp luật của quốc gia sở tại. Điều này có nghĩa, các cơ quan đại diện cần tiến hành bảo hộ công dân bằng các biện pháp và cách thức phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế như nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia sở tại.

2.1.2. Các Hiệp định song phương giữa Việt Nam và một số quốc gia liên quan đến bảo hộ công dân

  • 2.1.2.1. Các Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực giữa Việt Nam và một số quốc gia

Trong quá trình tạo mối quan hệ giữa các nước thì Việt Nam đã ký kết và thực hiện các Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với một số quốc gia. Miễn thị thực nghĩa là quốc gia cho phép một số đối tượng đặc biệt được xuất nhập cảnh ưu tiên, không phân biệt mục đích xuất nhập cảnh. Công dân nước khác khi được miễn thị thực sẽ được lưu trú trong một khoảng thời gian mà không cần làm những thủ tục cũng như đóng các khoản lệ phí liên quan tới việc xuất nhập cảnh. Đối với miễn thị thực song song thì Việt Nam đã ký Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với 91 nước, trong đó 04 Hiệp định với Ca-mơ-run, Nam-mi-bi-a, Ê-ti-ô-pi-a và Pa-na-ma (HCPT) chưa xác định hiệu lực. Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho công dân 13 nước là Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Bê-la-rút và cho quan chức Ban thư ký ASEAN.

Hiện tại Việt Nam miễn visa thị thực cho công dân một số nước với các hình thức chủ yếu như sau:

– Miễn visa thị thực theo hiệp định song phương (Có đi có lại): Bao gồm miễn thị thực cho các quốc gia Asian theo đó Việt Nam miễn Visa thị thực cho các công dân đến từ các quốc gia Đông Nam Á (Asian) và các quốc gia này cũng miễn thị thực visa cho công dân Việt Nam khi nhập cảnh các quốc gia này. Thời hạn miễn thị thực song phương không quá 30 ngày.

– Miễn thị thực đơn phương (Chỉ đơn phương phía Việt Nam miễn thị thực Visa): Hiện tại Việt Nam miễn thị thực cho công dân của 13 quốc gia bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Nga, Belarus, Đức, Pháp, Anh, Italy và Tây Ban Nha. Thời hạn của miễn thị thực đơn phương này không quá 15 ngày.

– Miễn thị thực 5 năm: Là hình thức miễn thị thực dài nhất mà Chính phủ Việt Nam ưu tiên giành cho những người nước ngoài có nguồn gốc Việt Nam hoặc có quan hệ hôn nhân, huyết thống với công dân Việt Nam không phân biệt quốc gia. Người được hưởng hình thức miễn thị thực này mỗi lần nhập cảnh vào Việt Nam được miễn Visa 90 ngày trong thời hạn 5 năm. Hết thời hạn miễn thị thực người nước ngoài có quyền xin cấp mới Giấy miễn thị thực..

Vai trò của hoạt động cấp thị thực tạo điều kiện để công dân thực hiện các hoạt động về kinh tế – xã hội, văn hóa và du lịch giữa các quốc gia. Đồng thời, trong các hiệp định song phương, đa phương và đơn phương về miễn thị thực có các điều khoản nhằm bảo hộ các công dân của các quốc gia đã ký kết và Việt Nam nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

  • 2.1.2.2. Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí giữa Việt Nam và một số nước

Từ năm 1980 đến năm 2007, trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Việt Nam đã ký được 15 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự với nước ngoài, chủ yếu là các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây (tới nay, Hiệp định ký với CHDC Đức đã hết hiệu lực).[2] Cụ thể là, trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt Nam ký thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước[3]. Nội dung của các Hiệp định được ký trong hai giai đoạn này về cơ bản là giống nhau. Các Hiệp định này đều điều chỉnh một cách tổng thể hai mảng quan hệ, đó là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và phương pháp thống nhất các quy tắc lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết các xung đột pháp luật và quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự, trong một số Hiệp định còn giải quyết cả vấn đề dẫn độ hoặc chuyển giao người bị kết án phạt tù.

Có thể nhận thấy, trong những năm trở lại đây, Việt Nam đã rất tích cực hoạt động nhằm nâng cao vị thế của mình trong cộng đồng ASEAN, trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương và cả trên bình diện toàn cầu bằng cách chủ động tổ chức hoặc tham gia các diễn đàn, hội nghị và chủ động đưa ra những đề xuất, sáng kiến trong việc nâng cao hiệu quả hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, đặc biệt là đưa ra những đề xuất đối với các thành viên ASEAN.

Thông qua hoạt động thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp góp phần tạo lòng tin của các công dân, pháp nhân vào hệ thống tư pháp được cải thiện do các vụ việc, tranh chấp về dân sự có nhiều cơ hội hơn để được xem xét một cách công bằng, khách quan cho tất cả các bên đương sự và cho những người có quyền và lợi ích liên quan, cho dù người đó cư trú ở trong hay ngoài nước, bản án đã được tòa án trong nước tuyên được bảo đảm được công nhận và thi hành ở nước ngoài. Bên cạnh đó, các cơ quan tư pháp của Việt Nam xác định được đầu mối rõ ràng để liên hệ, yêu cầu các cơ quan tư pháp của nước ngoài hỗ trợ tiến hành công tác xét xử. Quy trình thực hiện ủy thác tư pháp rõ ràng hơn, đơn giản hơn, rút ngắn được thời gian thực hiện, rút bớt được nhiều giai đoạn, nhiều thủ tục hơn (được miễn hợp pháp hóa giấy tờ, được gửi trực tiếp qua cơ quan trung ương chứ không phải đi vòng qua cơ quan đại diện ngoại giao, được miễn một số loại phí thực hiện ủy thác, ngôn ngữ thực hiện được xác định rõ ràng từ trước…).

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện nay, Việt Nam và các nước trong khu vực vẫn chưa coi trọng đúng mức cơ chế hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại. Hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại hiện nay giữa Việt Nam và hầu hết các nước trong khối ASEAN cũng như giữa các nước trong khối với nhau vẫn chỉ tiến hành trên cơ sở của nguyên tắc có đi có lại đối với từng vấn đề cụ thể. Việt Nam vẫn chưa ký kết hoặc tham gia một công ước quốc tế nào về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Trong quan hệ dân sự, hình sự nói chung thì Việt Nam và các quốc gia về thông thường điều chỉnh tổng thể cả hai mảng quan hệ là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các quốc gia và quy tắc chọn pháp luật để áp dụng giải quyết xung đột pháp luật cũng như quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong giải quyết vác vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự.

Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và gia đình trước hết được điều chỉnh bởi các quy định chung bao gồm các quy định về vấn đề bảo hộ pháp lý, cơ quan thực hiện và cơ quan đầu mối tương trợ tư pháp, cách thức liên hệ, phạm vi vấn đề tương trợ tư pháp, ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp, thực hiện uỷ thác tư pháp, triệu tập người làm chứng, người giám định, cách thức tống đạt giấy tờ, quy định về từ chối tương trợ tư pháp, chi phí tương trợ tư pháp.

Ngoài ra, các hiệp định tư pháp với các quy định lựa chọn pháp luật để giải quyết các xung đột pháp luật trong lĩnh vực nhân thân, hôn nhân gia đình, thừa kế. Ngoài ra, phần này có chương quy định chi tiết về điều kiện và thủ tục miễn giảm án phí, thi hành quyết định về án phí của toà án, gửi các văn bản giấy tờ về hộ tịch và chương quy định về vấn đề công nhận và cho thi hành quyết của Toà án và cơ quan có thẩm quyền khác, trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành. Đồng thời, xử lý xung đột pháp luật, thẩm quyền về tố tụng khá chi tiết, hợp lý và chặt chẽ. Từ đó, góp phần thay đổi gây không ít khó khăn cho việc thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp và áp dụng để giải quyết các vụ việc phát sinh giữa công dân các quốc gia.

Xem thêm: Khái quát tính hình người Việt Nam ở nước ngoài

  • 2.1.2.3. Hiệp định lao động với một số nước

Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế trong và ngoài nước thì vấn đề xuất khẩu lao động ra nước ngoài nên việc xây dựng các hiệp định lao động là điều hoàn toàn cần thiết. Thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác BHCD và pháp nhân VNONN, Nhà nước ta đã ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế, thể chế hóa nhiều văn bản pháp luật. Đến nay, Chính phủ đã mở 67 Đại sứ quán, 23 Tổng Lãnh sự quán và 7 Cơ quan Lãnh sự danh dự ở khắp các châu lục. Chính phủ đã cho phép tiếp tục mở thêm một số CQĐD trong vòng ba năm tới, đưa con số CQĐD VNONN lên gần 100 cơ quan. Với bộ máy này, công tác bảo hộ, giúp đỡ công dân ở nước ngoài đã và chắc chắn sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực. Tại các Đại sứ quán ở địa bàn có đông lao động Việt Nam như: Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Qatar, UAE, Séc…, đều đã thành lập Ban Quản lý lao động. Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội rà soát ký kết Hiệp định lao động với các nước: Lào năm 1995, Ô-man năm 2007, Qatar năm 2008, LB Nga năm 2008, Kazakstan 2008, UAE 2009, Canada 2010… Đây là những hành lang pháp lý quan trọng, là cơ sở để bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động VNONN. Với các quy định và hình thành nền tảng pháp lý về BHLĐ cho công dân Việt Nam khi lao động ở nước ngoài. Đồng thời, các CQĐD ta ở nước ngoài đã cấp hàng chục nghìn hộ chiếu cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm đáp ứng nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam và thuận lợi khi về nước thăm thân, mua nhà tại Việt Nam; cấp hàng nghìn hộ chiếu cho người bị mất hộ chiếu nhằm tạo địa vị pháp lý để họ đủ điều kiện xin cư trú hoặc gia hạn cư trú ở nước ngoài; cấp Thông hành cho lao động bị về nước trước hạn hoặc người bị trục xuất về nước.

CQĐD ta ở nước ngoài đã thực hiện nhiều vụ việc bảo hộ quyền lợi của người lao động ghi trong hợp đồng như thiếu tiền lương, mất việc, tai nạn bị thương, bị chết trong khi lao động… và các quyền lợi khác liên quan. Điển hình là việc Đại sứ quán Việt Nam tại Qatar đã đấu tranh bảo vệ quyền lợi của lao động Nguyễn Văn Bảy, bị tai nạn lao động dẫn đến tử vong ngày 14/10/2008 tại Qatar, phía chủ đã phải chấp nhận bồi thường cho gia đình anh Bảy với số tiền hơn 54.000 USD.

Bộ Ngoại giao đã chủ động chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, các công ty phái cử nhanh chóng kịp thời tổ chức Đoàn công tác liên ngành ra nước ngoài xử lý các vấn đề  xung đột giữa người lao động Việt Nam với chủ sử dụng lao động, với nước sở tại hoặc trong nội bộ lao động Việt Nam, không để ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, cũng như hình ảnh của người Việt Nam ở nước ngoài.

2.2. Quy định trong pháp luật Việt Nam

2.2.1. Hiến pháp 2013

Để tồn tại và phát triển, con người buộc phải liên kết lại với nhau thành những cộng đồng, thành xã hội. Và cùng với những sự liên kết đó, trong mỗi cộng đồng đã sinh ra quyền lực công cộng – một phương tiện để duy trì trật tự trong mỗi cộng đồng, cũng như trong toàn xã hội và để phối hợp hoạt động của cả cộng đồng, của xã hội theo những định hướng nhất định vì những mục tiêu chung nhằm đạt tới tự do, hạnh phúc cho mỗi người và cho cả cộng đồng. Khi trong xã hội xuất hiện nhà nước, cũng có nghĩa là xuất hiện quyền lực nhà nước – một loại quyền lực công cộng đặc biệt bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân nhưng không do toàn thể nhân dân tự thực hiện mà do một bộ máy chuyên môn thay mặt nhân dân thực hiện. Song trên thực tế, sự kiểm soát của nhân dân đối với quyền lực nhà nước từ xưa đến nay luôn là vấn đề rất khó khăn; trong nhiều trường hợp có thể nói là nhân dân hầu như không thể kiểm soát được quyền lực nhà nước. Để nhân dân có thể kiểm soát được quyền lực nhà nước, làm cho nhà nước thực sự là “của dân, do dân và vì dân” thì cần phải xác lập một cơ chế giao và kiểm soát quyền lực chặt chẽ từ phía nhân dân đối với các cơ quan nhà nước, những người đại diện cho nhân dân để nhân dân không bị biến thành công cụ, phương tiện phục vụ lợi ích cho những người mà họ đã uỷ quyền, thì biện pháp tốt nhất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là phải xây dựng nhà nước pháp quyền.

Hiến pháp là tổng thể các quy phạm pháp luật cơ bản do nhà nước quy định về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, về vị trí, chức năng tổ chức bộ máy nhà nước. Các quy phạm hiến pháp là cơ sở, nguyên tắc để xậy dựng và tổ chức thực hiện các ngành luật khác Ngày 28/11/2013, tuyệt đại đa số Đại biểu Quốc hội khóa XIII đã thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để trở thành Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi (sau đây gọi là Hiến pháp 2013). Hiến pháp 2013 trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và bảo đảm quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong đó, các quyền và nghĩa vụ của công dân là được nhà nước bảo hộ trong và ngoài nước, đặc biệt là người Việt Nam ở nước ngoài, điều này được ghi nhận tại Điều 75 Hiến pháp 1992 và ghi nhận tại Điều 17 của Hiến pháp 2013: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì nó giúp cho các cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân của nước ta xác định chính xác đối tượng được bảo hộ, cũng như phù hợp với pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó thể hiện chính sách xem người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Việt Nam ra nước ngoài vì bất kì lí do gì cũng được nhà nước Việt Nam bảo hộ. Đồng thời nhà nước Việt Nam chỉ bảo hộ cho những người là công dân Việt Nam, còn đối với những người đã từng là công dân Việt Nam nhưng vì lí do nào đó mà không còn quốc tịch Việt Nam thì nhà nước Việt Nam không có trách nhiệm bảo hộ họ. Bên cạnh đó, Hiến pháp 2013 cũng quy định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ được Hiến pháp năm 2013 quy định một cách toàn diện và đầy đủ tại điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Như vậy, mọi công dân Việt Nam không phân biệt thành phần, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…đều được nhà nước bảo hộ như nhau khi ở trong nước cũng như nước ngoài. Các cơ quan có thẩm quyền nói chung và các cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân nói riêng phải thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này bởi vì chỉ khi nào nguyên tắc này được đảm bảo thì xã hội mới có công bằng, quyền và lợi ích của công dân mới được đảm bảo một cách tốt nhất. Đồng thời, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp thì Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Điều 17). Đây là một quy định rất quan trọng để xác định một người là công dân Việt Nam, theo đó, một người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam và sẽ được Nhà nước Việt Nam bảo hộ. Như vậy, Hiến pháp 2013 với tính chất là một đạo luật có giá trị pháp lí cao nhất ở nước ta hiện nay đã quy định một cách cơ bản các quyền của công dân Việt Nam. Trong đó quyền được nhà nước Việt Nam bảo hộ là một quyền rất quan trọng, nó không chỉ thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với công dân mình mà còn thể hiện chủ quyền của nhà nước Việt Nam so với các quốc gia khác.

2.2.2. Luật Cơ quan đại diện 2009, sửa đổi bổ sung 2017

Bên cạnh Hiến pháp thì các quy định của Luật cơ quan đại diện 2009, sửa đổi bổ sung 2017 là nền tảng để cơ quan đại diện thực hiện quy định về CQĐD ở nước ngoài

Luật CQĐD gồm 6 chương, 36 điều được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 02/9/2009, bãi bỏ Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 và Pháp lệnh Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1993. Việc ban hành Luật CQĐD có ý nghĩa quan trọng, tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi để các CQĐD thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam tại quốc gia và tổ chức quốc tế tiếp nhận, triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hoá, lãnh sự, công tác cộng đồng, thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại. Luật CQĐD xác định rõ hơn về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐD cũng như cơ chế phối hợp công tác giữa các CQĐD trên cùng một địa bàn, giữa cơ quan trong nước và CQĐD, qua đó tăng cường hiệu quả hoạt động của CQĐD và việc triển khai thực hiện các chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận.

Bên cạnh giải pháp về con người, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường hiện diện ngoại giao của Việt Nam tại các nước trong điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước, cần bổ sung quy định về cơ chế Đại sứ đặt tại Việt Nam, phụ trách quan hệ với các nước mà không thành lập CQĐD. Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 186 nước, song cơ quan đại diện ngoại giao mới được thành lập tại 71 nước; đối với 115 quốc gia còn lại, có 44 người đứng đầu các cơ quan đại diện tại quốc gia khác được cử kiêm nhiệm theo quy định tại Điều 20 của Luật CQĐD. Trong một số trường hợp, cơ chế Đại sứ kiêm nhiệm không phát huy hiệu quả do số lượng nước kiêm nhiệm nhiều trong khi CQĐD được tổ chức theo mô hình nhỏ gọn, đặc biệt ở khu vực Châu Phi. Có trường hợp nước được kiêm nhiệm không có cơ quan đại diện ngoại giao tại nước kiêm nhiệm, dẫn đến khó khăn trong liên lạc, xử lý công việc. Với quy định của Luật cơ quan đại diện ở nước ngoài sẽ tạo nền tảng quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài. Đồng thời, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; đảm bảo thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý thống nhất các hoạt động bảo hộ công dân, triển khai thực hiện các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 trong thực tế.

Xem thêm: Lý Luận Chung Về Cơ Chế Pháp Lý Bảo Hộ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

2.3. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân ở nước ngoài

  • 2.3.1.1. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân ở nước ngoài

Hiện nay chưa có một văn bản pháp lý quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của cá nhân ở nước ngoài được áp dụng chung cho các cá nhân nói chung trên toàn thế giới. Nói cách khác, tùy mỗi quốc gia sẽ có hệ thống pháp lý quy định chung cho các cá nhân về quyền và nghĩa vụ khi ở trên đất nước họ.

Có thể xem quyền và nghĩa vụ của công dân có thể được chia thành hai loại gồm quyền và nghĩa vụ cơ bản (được quy định mang tính xác lập, khởi đầu trong Hiến pháp – luật cơ bản của Nhà nước) và quyền, nghĩa vụ khác hay quyền, nghĩa vụ không cơ bản (được quy định mang tính xác lập, khởi đầu trong các luật, bộ luật). Phân tích sâu hơn, chúng ta nhận thấy Hiến pháp chỉ quy định những quyền và nghĩa vụ công dân hoặc có tính quan trọng đặc biệt, hoặc vừa có tính quan trọng đặc biệt vừa có tính khái quát so với quyền và nghĩa vụ luật định. Ví dụ: nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ chung được hiến định; còn nghĩa vụ nộp một loại thuế cụ thể như thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu… sẽ do luật định. Hoặc quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (theo suy đoán) là quyền chung.Trong trường hợp này, nếu chỉ lấy việc xác định độ tuổi làm căn cứ thì quyền bầu cử dường như là quyền khá cụ thể; tuy nhiên, nếu tiếp tục xét một số trường hợp công dân tuy đủ tuổi hiến định song vẫn bị tước quyền bầu cử theo luật định (ngoại lệ) thì quyền này lại vẫn mang tính khái quát.

Về nghĩa vụ của cá nhân ở nước ngoài thì bên cạnh việc tuân thủ các quy định của nước sở tại thì nghĩa vụ của cá nhân phải chấp hành các nghĩa vụ của nước mà công dân mang quốc tịch. Việc quy định về nghĩa vụ của các cá nhân ở nước ngoài được các quy định tại văn bản pháp luật của các quốc gia, các hiệp định tương trợ tư pháp mà các quốc gia đã ký kết và các công ước mà các quốc gia là thành viên.

  • 2.3.1.2. Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân ở nước ngoài

Pháp nhân nước ngoài chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật của nước pháp nhân mang quốc tịch điều chỉnh: năng lực pháp luật dân sự, điều kiện thủ tục thành lập, hợp nhất, giải thể, chia tách,thanh lí tài sản khi giải thể pháp nhân; Pháp luật nước sở tại quy định quyền và nghĩa vụ của pháp nhân, lĩnh vực hoạt động, phạm vi hoạt động, quy mô ngành nghề…Quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài còn thể hiện ở chỗ khi các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân nước ngoài bị xâm phạm thì nó sẽ được nước mà nó mang quốc tịch thực hiện sự bảo hộ pháp lý về mặt ngoại giao.

Nội dung quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài là không giống nhau giữa các nước và ngay trong cùng một nước ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau quy chế pháp lý đối với pháp nhân nước ngoài không phải lúc nào cũng giống nhau. Ví dụ: Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam được xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Về năng lực pháp luật dân sụ của pháp nhân nước ngoài theo quy định tại Điều 765 Bộ luật dân sự thì được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập; trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác; trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên nội dung cụ thể của quy chế pháp lý dân sự của các loại pháp nhân ước ngoài hoạt động ở Việt Nam không hoàn toàn giống nhau.

2.4. Trách nhiệm của Nhà nước trong công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài trong công tác lãnh sự

2.4.1. Ở trong nước

  • 2.4.1.1. Bộ ngoại giao

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấn đề trọng tâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Có thể nói một trong những vấn quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Nhà nước luôn có cơ chế luôn đảm bảo cho công dân được những lợi ích và các quyền công dân và ngược lại công dân phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà pháp luật quy định. Việc thiết lập các cơ chế để thúc đẩy và hoàn thiện mối quan hệ này cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về cơ chế pháp lí cũng như thực tiễn cuộc sống. Một những quyền mà mọi công dân quan tâm nhất hiện nay là quyền được bảo hộ khi đang ở nước ngoài, đây là trách nhiệm của quốc gia đối với công dân của mình. Bộ Ngoại giao là cơ quan quản lý Nhà nước về công tác lãnh sự đồng thời cũng trực tiếp xử lý những công việc về lãnh sự theo quy định của pháp luật và phân công của Chính phủ đối với các pháp nhân, công dân Việt Nam và các đối tượng nước ngoài. Bộ Ngoại giao nói riêng trong việc nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài.

Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan xây dựng kế hoạch hoạt động đối ngoại nhà nước; tổng hợp kế hoạch hoạt động đối ngoại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương; hướng dẫn tổ chức thực hiện và yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện các hoạt động đối ngoại; chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn nghiệp vụ đối ngoại cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương…Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Việc này thể hiện rất rõ trong quy định của Hiến pháp, của Luật Tổ chức Chính phủ. Quyền của công dân và trách nhiệm của Nhà nước đã được quy định rõ trong những văn bản pháp luật cao nhất. Quán triệt tinh thần đó, từ trước đến nay, việc bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài, Chính phủ đã giao cho Bộ Ngoại giao chủ trì. Bộ Ngoại giao chủ trì về mặt nhà nước đối với công tác bảo hộ công dân.

2.4.1.2. Sở ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh

Sở ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Sở Ngoại vụ) là đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao (sau đây viết tắt là Bộ) có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (sau đây viết tắt là Bộ trưởng) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác đối ngoại và triển khai các nhiệm vụ đối ngoại theo ủy quyền của Bộ trưởng tại các tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trở vào phía Nam (sau đây viết tắt là các tỉnh, thành phía Nam); đồng thời, tham mưu và trực tiếp triển khai các hoạt động đối ngoại của thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Thành phố) theo sự chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố. Đồng thời, xây dựng các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch liên quan đến công tác đối ngoại của Thành phố; tổng hợp, báo cáo tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có yếu tố nước ngoài trên địa bàn Thành phố; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật nhằm quản lý hoạt động đối ngoại tại Thành phố đồng thời tăng cường công tác bảo hộ công dân nói chung trong thực tế.

2.2.1.3. Cơ quan ngoại vụ các Tỉnh, Thành phố

Dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước và sự thống nhất, phối hợp từ Trung ương đến tất cả các địa phương trong cả nước, công tác đối ngoại đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.  Công tác ngoại vụ tại địa phương sẽ tạo ra bước chuyển về chất đối với tiến trình hội nhập quốc tế tại địa phương, phát huy tối đa tiềm năng địa phương. Các cơ quan ngoại vụ địa phương cần nâng tầm tham gia, đóng góp về công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách, phát huy tốt hơn nữa “vai trò đầu mối”, “trái tim hội nhập” tại địa phương trong nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và kịp thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực thi các cam kết hội nhập quốc tế và khu vực trong hoạt động bảo hộ công dân trong nước và nước ngoài đáp ứng với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước nói chung.

2.4.2. Ở ngoài nước

2.4.2.1. Bộ ngoại giao

Hiện nay thì vấn đề bảo hộ công dân ở nước ngoài được xem xét đánh giá hết sức quan trọng. Thực tiễn lãnh đạo Bộ Ngoại giao triệu đại sứ, trao công hàm; trả lời phỏng vấn báo chí của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao hoặc Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao về vấn đề bảo về quyền lợi của công dân; Cục Lãnh sự (Bộ ngoại giao) gửi công hàm cho Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội hoặc Cục trưởng Cục Lãnh sự mời Đại sứ nước liên quan trao công hàm; Bộ Ngoại giao ta gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao nước ngoài liên quan; cử Đoàn công tác liên ngành trong nước ra nước ngoài thực hiện bảo hộ. Ngoài ra, một số bộ, ngành hoặc hội nghề nghiệp, đoàn thể quần chúng hoặc một số chính khách của ta phát biểu hoặc ra tuyên bố công khai phản đối, lên án việc xâm phạm lợi ích hoặc đối xử thô bạo với công dân, pháp nhân của ta.

Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội rà soát ký kết Hiệp định lao động với các nước: Lào năm 1995, Ô-man năm 2007, Qatar năm 2008, LB Nga năm 2008, Kazakstan 2008, UAE 2009, Canada 2010… Đây là những hành lang pháp lý quan trọng, là cơ sở để bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, tạo nền tảng cơ bản cho hoạt động BHCD

2.4.2.2. Tổng lãnh sự quán

Tổng Lãnh sự có chức năng tham mưu, tổng hợp giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quản lý Nhà nước chuyên ngành về công tác lãnh sự và hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của pháp nhân và công dân Việt Nam; chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và Phòng Lãnh sự thuộc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chức năng lãnh sự phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế; phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan xử lý các vấn đề liên quan đến lãnh sự.

2.4.2.3. Lãnh sự quán

Tại điều 8 Luật Cơ quan đại diện đã quy định trách nhiệm của cơ quan đại diện trong việc thực hiện chức năng bảo hộ lãnh sự đối với lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam, cụ thể thông qua các hoạt động như:

Thứ nhất, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật nước sở tại, điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó ký kết hoặc tham gia và phù hợp với tập quán quốc tế; Bảo đảm cho công dân Việt Nam ở nước tiếp nhận được hưởng những quyền cơ bản theo luật pháp quốc tế như quyền được nước tiếp nhận bảo vệ tính mạng, tài sản và các quyền hợp pháp khác, quyền được tự do cư trú, đi lại, hành nghề…

Thứ hai, đại diện cho pháp nhân, công dân Việt Nam trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự hoặc đại diện cho công dân Việt Nam trước toà án và các cơ quan có thẩm quyền khác của nước tiếp nhận trong quá trình tố tụng hình sự, dân sự… khi pháp nhân hoặc công dân Việt Nam ở trong khu vực lãnh sự vắng mặt mà không ủy nhiệm người khác đại diện hoặc vì lý do nào đó không tự bảo vệ được các quyền lợi của họ.

Thứ ba, liên hệ với cơ quan có thẩm quyền địa ương nhằm đảm bảo việc bắt giữ, tạm giữ, xét xử công dân ta được thực hiện theo đúng pháp luật nước tiếp nhận, các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế. Nếu phát hiện sự vi phạm từ nước tiếp nhận thì cơ quan đại diện yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền trong khu vực lãnh sự thi hành các biện pháp khắc phục.

Thứ tư, liên hệ với cơ quan thẩm quyền nước tiếp nhận để thu xếp việc đi thăm công dân Việt Nam. Khi gặp công dân Việt Nam bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị tù thì cơ quan đại diện tìm hiểu sự việc vi phạm, điều kiện tạm giữ và tâm tư, nguyện vọng của đương sự để có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, cung cấp những thông tin pháp lý cần thiết… Cơ quan đại diện có thể nhận chuyển thư từ, tiền, quà cho công dân Việt Nam nếu pháp luật nước tiếp nhận cho phép, giúp đương sự liên lạc với thân nhân hoặc cung cấp thông tin về đương sự cho thân nhân của họ. Bên cạnh đó các cơ quan đại diện còn thực hiện nhiệm vụ lãnh sự khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và không trái với pháp luật của quốc gia tiếp nhận hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên.

2.5. Quy định pháp luật về các hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam được quy định trong pháp luật hiện hành

2.5.1. Các hoạt động mang tính chất công vụ (cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính, giấy tờ xuất nhập cảnh…)

Cơ quan đại diện có chức năng về cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời thực hiện hoạt động cấp, bổ sung, hủy bỏ thị thực; cấp, thu hồi, hủy bỏ giấy miễn thị thực của Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này được quy định tại Điều 8 Luật cơ quan đại diện sửa đổi bổ sung. Trình tự thủ tục được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của công dân.

2.5.2. Thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân và pháp nhân nước mình

Quá trình công dân Việt Nam ở nước ngoài sinh sống ở nước ngoài thì việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, pháp nhân nước mình là điều rất quan trọng. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó khủng hoảng, thực hiện công tác tìm kiếm, hỗ trợ công dân Việt Nam tại nước ngoài trong các vụ động đất, thiên tai, hỏa hoạn hoặc khủng bố, tai nạn gây thiệt hại lớn về người và tài sản xảy ra một cách bất thường ở nhiều nơi trên thế giới. Công tác BHCD cũng ghi nhận sự tăng cường, chủ động trong thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức tới người dân, doanh nghiệp để có thể tự bảo vệ lợi ích của bản thân, tránh rơi vào tình huống bất lợi khi ở nước ngoài cũng như kịp thời thông báo, liên hệ với CQĐD Việt Nam khi gặp khó khăn. Điều này được quy định tại Điều 8 Luật cơ quan đại diện sửa đổi, bổ sung.

2.5.3. Các hoạt động hỗ trợ và bảo vệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

 Khẳng định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động BHCD Việt Nam ở nước ngoài nên các hoạt động của hoạt động bảo hộ lãnh sự đối với lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam và thực hiện các nhiệm vụ lãnh sự được quy định tại Điều này trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế. Điều này thể hiện ở việc thăm lãnh sự và liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận.

Trong trường hợp công dân, pháp nhân Việt Nam không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo pháp luật và thực tiễn của quốc gia tiếp nhận, cơ quan đại diện có thể tạm thời đại diện hoặc thu xếp người đại diện cho họ tại tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận cho đến khi có người khác làm đại diện cho họ hoặc họ tự bảo vệ được quyền và lợi ích của mình. Đồng thời, cơ quan lãnh sự cùng là cơ quan tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình cộng đồng và công tác vận động, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về chính sách, biện pháp thích hợp nhằm duy trì sự gắn bó của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đất nước; khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn bản sắc dân tộc, tham gia hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước.

Đặc biệt, tạo điều kiện và hỗ trợ cho người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập với xã hội tại quốc gia tiếp nhận; kiến nghị biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam, ngăn ngừa hành động phân biệt đối xử đối với cộng đồng người Việt Nam ở quốc gia tiếp nhận.

2.5.4. Hỗ trợ tài chính cho công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy chế hoạt động quỹ bảo hộ công dân theo quy định pháp luật

Thực hiện hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài thì vấn đề hỗ trợ tài chính cho công dân ở nước ngoài cũng là một trong những quy định cơ bản trong quá trình BHCD ở nước ngoài. Trên cơ sở đó thì Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhận Việt Nam ở nước ngoài được thành lập theo Quyết định số 119/2007/QĐTTg ngày 25/07/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm thực hiện hiệu quả hơn công tác bảo hộ công dân. Quỹ có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại giao về tổ chức và hoạt động. Cục Lãnh sự là cơ quan được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Quỹ.

Quỹ Bảo hộ công dân hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Hỗ trợ các hoạt động của các Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện việc bảo hộ các quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của côang dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài. Hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp cho công dân, pháp nhân Việt Nam gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà họ không thể tự khắc phục được tại thời điểm đó.

Hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài là một chế định pháp lý quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước trong tình hình mới. Chế định này ra đời và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Trải qua quá trình sửa đổi, bổ sung, các quy định của nhà nước đối với vấn đề này đã được hệ thống hóa trong các văn bản quản lý nhà nước nói chung và thực sự khẳng định vai trò quan trọng của các quy định này trong hoạt động quản lý nhà nước về vấn đề này nói chung. Quá trình áp dụng các văn bản vào hiện thực, góp phần đảm bảo tính chặt chẽ trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài theo quy định pháp luật hiện hành. Thực hiện tốt pháp luật về vấn đề này nói chung là tiền đề quan trọng trong việc thực hiện công tác bảo hộ công dân nói chung. Chương 2 của khóa luận đã phân tích một cách khái quát về hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở lý luận về bảo hộ công dân ở nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam ở Chương 1, tác giả vận dụng thực tiễn tại Việt Nam, đánh giá tình hình thi hành, kết quả đạt được và những hạn chế, khó khăn gặp phải trong quá trình thi hành pháp luật về bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài được trình bày trong Chương 3 của khóa luận

Cách Làm Đề Tài Báo Cáo Thực Tập: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÔNG DÂN VIỆT NAM Ở  NƯỚC NGOÀI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÔNG DÂN VIỆT NAM Ở  NƯỚC NGOÀI
 các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Khái quát tính hình người Việt Nam ở nước ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1.3. Khái quát tình hình người Việt Nam ở nước ngoài

1.3.1. Tình hình người Việt Nam ra nước ngoài ở một số khu vực và nước đến chủ yếu

Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có những đặc điểm nổi bật như là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số có xu hướng định cư lâu dài ở nước sở tại chủ yếu là Mỹ, Úc, Canada các nước Tây Âu (khoảng 80% đã nhập quốc tịch nước cư trú nhưng hầu hết chưa thôi quốc tịch Việt Nam), trong khi phần lớn người Việt tại Nga, Đông Âu vẫn coi cuộc sống là tạm cư, khi có điều kiện sẽ trở về nước. Số liệu thống kê đưa ra tại hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ hai với chủ đề “Tầm nhìn đến năm 2020 – Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và phát triển cùng đất nước” do Bộ Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Theo Ủy ban, hàng năm có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước, trong đó có nhiều chuyên gia, trí thức về làm việc và nhiều người về tìm hiểu cơ hội đầu tư kinh doanh. Hiện có trên 3.500 doanh nghiệp trong nước được thành lập hoặc góp vốn của kiều bào với tổng số vốn đăng ký khoảng 8,4 tỷ USD.

Dù được coi là thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, tiềm lực kinh tế của cộng đồng còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người nhìn chung thấp so với mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống ổn định, nhiều người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội). Trong khi đó, tiềm lực chất xám, trí tuệ của cộng đồng khá lớn, nhất là ở phương Tây, Nga, Đông Âu. Hiện ước tính trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 300.000 người. Một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển tập trung ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Đại dương ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán.

Theo số liệu của Học viện Ngoại giao năm 2012, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có trên 4 triệu người và phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, 98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Đại Dương. Với gần 1.8 triệu người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ, vào thời điểm năm 2010 số người Việt ở Mỹ chiếm khoảng một nửa số Việt kiều trên toàn thế giới. Họ thường tập trung ở miền Tây, chủ yếu là ở các khu vực đô thị.

1.3.2. Tình hình người Việt Nam ở nước ngoài lao động, học tập, sinh sống, du lịch

Hiện nay, với khoảng 4,5 triệu người Việt Nam hiện đang sinh sống, lao động, học tập tại 109 nước và vùng lãnh thổ. Cộng đồng người Việt ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nước sở tại, có tiềm lực đáng kể về tri thức và kinh tế. Tại Việt Nam, hiện có khoảng 6.300 doanh nghiệp kiều bào đang hoạt động với 2.000 dự án tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực thương mại, du lịch, xây dựng, bất động sản, sản xuất hàng xuất khẩu, nuôi trồng, xuất khẩu thủy hải sản…Hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp của NVNONN đang hoạt động đầu tư trên cả nước với tổng số vốn góp và vốn đăng ký là 4 tỷ USD tại 52 tỉnh, thành phố, tập trung chủ yếu ở các thành phố và trung tâm kinh tế lớn. Theo công bố từ Ngân hàng Thế giới, năm 2019, lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 16,7 tỷ USD. Liên tiếp 3 năm, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh nhận lượng kiều hối đổ về cao nhất cả nước, ước tính năm 2019 đạt 5,6 tỷ USD. Bên cạnh đó, hoạt động của các hội nhóm, cá nhân, chuyên gia, trí thức, doanh nhân kiều bào đã tạo tiếng vang trong cộng đồng, góp phần quan trọng kết nối doanh nhân, trí thức, chuyên gia người Việt trên toàn thế giới; thúc đẩy đóng góp của kiều bào cho sự phát triển khoa học công nghệ, kinh tế-xã hội của đất nước.

Xem thêm:

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Lý Luận Chung Về Cơ Chế Pháp Lý Bảo Hộ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1.1. Lý luận chung về cơ chế pháp lí bảo hộ công dân

1.1.1. Khái niệm về cơ chế pháp lý bảo hộ công dân

  • 1.1.1.1. Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài

Trên cơ sở nghiên cứu thì có nhiều khái niệm về người Việt Nam ở nước ngoài thường được quy định một cách thống nhất. Về cơ bản thì người Việt Nam ở nước ngoài thường được hiểu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Việc người Việt định cư ra nước ngoài đã có từ rất lâu, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, định cư ở nhiều quốc gia, khu vực. Hiện nay, số lượng người Việt định cư ở nước ngoài ngày càng nhiều và tạo nên các cộng đồng người Việt ở nước ngoài rất đa dạng và phức tạp.

Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được hiểu tương đối thông nhất. Điều 3 khoản 3 Nghị định Số:138/2006/NĐ-CP quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Khái niệm này được khẳng định lại tại Điều 3 khoản 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Như vậy, theo khái niệm trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 2 loại là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

– Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam (Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013).

– Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (Điều 3 khoản 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008).

  • 1.1.1.2. Khái niệm bảo hộ công dân theo pháp luật quốc tế

ặt ra khi cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia sở tại có hành vi trái pháp luật quốc tế, qua đó gây phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình ở nước ngoài. Quốc gia mà người đó là công dân có trách nhiệm tiến hành các biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân mình. Đồng thời, trách nhiệm BHCD còn bao gồm các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới công dân của nước này. Trong trường hợp này, sự bảo hộ bao gồm những hoạt động mang tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính cho công dân; các hoạt động có tính chất trợ giúp như giúp đỡ về tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, giúp đỡ công dân trong việc chuyển thông tin, bảo quản giấy tờ, tài sản…; hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam, áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân nước mình trên cơ sở phù hợp quy định pháp luật quốc gia sở tại hoặc luật pháp quốc tế[1].

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 được kí kết trong Hội nghị Liên hợp quốc về Tổ chức Quốc tế tại San Fransisco (Mỹ) ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945, sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập (Trung Hoa, Liên Bang Xô Viết, Pháp, Anh, Hoa Kỳ) và phần đông các nước khác mặc dù vấn đề bảo hộ công dân không được nêu trực tiếp trong Hiến chương, nhưng thông qua những điều khoản của Hiến chương này mà các nguyên tắc bảo hộ công dân được thể hiện. Những quy định kể trên là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống văn kiện quốc tế về các vấn đề có liên quan đến bảo hộ công dân. Dựa trên tinh thần và nguyên tắc của bản hiến chương này, các công ước quốc tế ra đời tạo cơ sở pháp lí cho quốc gia bảo hộ quyền và lợi ích của công dân mình trên toàn thế giới. Trong đó, hai công ước cơ bản nhất là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự.

Đối với Công ước Viên về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18/4/1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về Quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao. Bắt đầu có hiệu lực ngày 24/4/1964 là công ước quan trọng nhất được các quốc gia sử dụng trong lĩnh ngoại giao của mình. Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao được quy định cụ thể tại điều 3 Công ước Viên về quan hệ ngoại giao 1961. Theo đó, cơ quan đại diện ngoại giao đại diện cho nước cử đi tại nước tiếp nhận; Bảo vệ quyền lợi của nước cử đi và của công dân nước cử đi tại nước tiếp nhận trong phạm vi cho phép của luật quốc tế…như vậy, một trong những chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao là bảo vệ quyền lợi của công dân nước mình. Công ước không quy định cụ thể biện pháp mà cơ quan đại diện ngoại giao phải thực hiện để bảo hộ công dân. Theo thông lệ thì cơ quan này có thể tiến hành bảo hộ công dân nước mình bằng nhiều biện pháp nhưng phải phù hợp với pháp luật nước cử, pháp luật nước nhận cũng như pháp luật quốc tế. Cơ quan đại diện có thể giúp đỡ công dân mình khi họ gặp khó khăn, đại diện cho công dân tham gia vào quá trình tố tụng… Và đây cũng là nền tảng cơ bản để cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thực hiện các hoạt động BHCD trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ được giao trong thực tế.

Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao (1961), các cơ quan đại diện ngoại giao một nước trên lãnh thổ của nước sở tại có thẩm quyền “bảo vệ lợi ích quốc gia và của công dân mình trong giới hạn của luật pháp quốc tế” nói chung.[2]

Từ những phân tích trên, một cách chung nhất, có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm BHCD theo pháp luật quốc tế như sau: BHCD theo pháp luật quốc tế là trách nhiệm chính trị – pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tiến hành bảo vệ khi có sự đe doạ, cản trở hoặc xâm hại đến các quyền và lợi ích đó. Như vậy, hoạt động bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính chất công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ dự định tới… vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính chất phức tạp hơn như hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền lợi và lợi ích tối thiểu theo quy định của nước sở tại hoặc luật quốc tế.

  • 1.1.1.3. Khái niệm bảo hộ công dân theo pháp luật Việt Nam

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấn đề trọng tâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Có thể nói một trong những vấn quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Nhà nước luôn có cơ chế luôn đảm bảo cho công dân được những lợi ích và các quyền công dân và ngược lại công dân phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà pháp luật quy định. Việc thiết lập các cơ chế để thúc đẩy và hoàn thiện mối quan hệ này cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về cơ chế pháp lí cũng như thực tiễn cuộc sống. Một những quyền mà mọi công dân quan tâm nhất hiện nay là quyền được bảo hộ khi đang ở nước ngoài, đây là trách nhiệm của quốc gia đối với công dân của mình. Theo quy định của Hiến pháp 2013 thì việc bảo hộ công dân là một trong những chức năng của nhà nước nhằm bảo hộ các công dân mang quốc tịch của mình, đồng thời đây cũng là một trong các quyền rất cơ bản và quan trọng của mỗi công dân trong và ngoài lãnh thổ của quốc gia mà mình mang quốc tịch. Đồng thời, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng nhấn mạnh: Việc bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài là hết sức cần thiết, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, góp phần nâng cao vị thế chính trị, uy tín của Nhà nước Việt Nam đối với thế giới cũng như trong con mắt người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần khuyến khích, động viên ngày càng nhiều hơn sự đóng góp của bà con Việt kiều vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thuật ngữ “bảo hộ” (dưới góc độ là một chức năng của Nhà nước) đã được sử dụng từ rất lâu, nhưng không theo cách hiểu hiện đại, mà theo cách hiểu về một trạng thái do Nhà nước đô hộ áp đặt cho quốc gia bị đô hộ. Nghĩa “che chở, giúp đỡ, chăm lo” ở đây chỉ thuần túy mang cái nhìn bề trên từ phía Nhà nước.

Về mặt ngữ nghĩa, “bảo hộ” là thuật ngữ có gốc từ Hán Việt. “Bảo” nghĩa là giữ gìn, “hộ” nghĩa là che chở. Như vậy, “bảo hộ” nghĩa là giữ gìn, che chở. Theo Từ điển Tiếng Việt: Bảo hộ là “che chở, không để bị tổn thất[3]. Bảo hộ theo nghĩa như vậy được sử dụng trong nhiều tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Trong pháp luật quốc tế thì bảo hộ công dân

Theo nghĩa rộng, BHCD là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài mà còn bao gồm hoạt động giúp đỡ về mọi mặt..

Theo nghĩa hẹp, BHCD được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài khi những quyền và lợi ích này bị xâm hại.. Như vậy, BHCD theo nghĩa hẹp chỉ diễn ra khi sự xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình. Với cách tiếp cận như vậy, BHCD theo nghĩa hẹp có nội dung khá gần gũi với khái niệm bảo vệ quyền trong quan niệm hiện hành. Tuy nhiên, BHCD dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng đều là trách nhiệm chính trị – pháp lý, mà trước hết là trách nhiệm chính trị, xuất phát từ yêu cầu về tính chính đáng của nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân được thực hiện các quyền một cách tốt nhất. Nhà nước phải có trách nhiệm với công dân, ngay cả trong các trường hợp nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của mình, hoặc khi pháp luật chưa đầy đủ hoặc thiếu vắng nhưng vì các nguyên tắc nhân đạo, công bằng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, mà vẫn phải thực hiện trách nhiệm. Đây là mối quan hệ giữa nhà nước và công dân của một quốc gia cụ thể, liên quan đến khía cạnh các quyền cơ bản của công dân.

1.1.2. Vai trò,mục đích, ý nghĩa của cơ chế pháp lí bảo hộ công dân ở nước ngoài

  • 1.1.2.1. Vai trò đối với cá nhân, pháp nhân và Nhà nước

Trên cơ sở những tri thức chung về quy định bảo hộ  công dân thấy vai trò của pháp luật trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thể hiện ở những điểm căn bản sau đây:

Một là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện cụ thể hóa một cách chính thống phần lớn các quyền, tự do của công dân, con người vốn được ghi nhận trong Hiến pháp, trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội. Nhiều quyền cơ bản của công dân chỉ có thể được bảo đảm, bảo vệ khi được cụ thể hóa thành các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài, nhờ có các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài mà các quy phạm hiến pháp về quyền con người, quyền công dân được thực hiện trên thực tế. Như vậy, các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để đưa các quy phạm hiến pháp về quyền con người, quyền công dân đi vào đời sống xã hội, nói cách khác nhờ có quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài mà nhiều quy phạm Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân được thực hiện trên thực tế.

Hai là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để giới hạn quyền lực của hệ thống quản lý hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức của công dân. Đồng thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài xác định giới hạn quyền lực hành chính công với công dân, đảm bảo mọi công dân Việt Nam ở nước ngoài đều được bảo vệ  và pháp luật nói chung hay cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài nói riêng cần phải tạo ra giới hạn sự can thiệp của nhà nước trong hoạt động BHCD trong thực tế. Thông qua đó mà cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài đã bảo đảm, bảo vệ quyền của con người, quyền công dân đối với các công dân Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn hiện nay.

Ba là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để công dân có thể kiểm soát được các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thông qua hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thì người dân phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình để từ đó các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài để các cơ quan thay mặt nhà nước thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo quyền công dân trong trường hợp bị xâm phạm.

Bốn là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện pháp lý, bằng các phương thức, cách thức, biện pháp khác nhau để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm hại trong hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội. Trong thực tiễn đời sống nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm hại từ phía công quyền, hay từ các chủ thể khác, được bảo vệ, khôi phục trước hết bởi bộ máy hành chính, dựa trên cơ sở các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài và các loại quy phạm pháp luật khác mà cơ quan hành chính nhà nước có thể sử dụng, áp dụng. Có thể nói không một trường hợp vi phạm pháp luật nào xâm phạm tới quyền của con người, của công dân mà trước hết lại không được bảo vệ bởi hệ thống hành chính nhà nước. Đây là một thực tiễn trong đời sống nhà nước và xã hội cần được nhận thức và thừa nhận. Từ đó mà có nhận thức đầy đủ và khách quan về vai trò của bộ máy hành chính, của cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài

  • 1.1.2.2. Mục đích bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Mục tiêu cao nhất trong công tác bảo hộ công dân là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam. Chính phủ không “bảo hộ” cho những hành động sai trái, vi phạm pháp luật nước sở tại.

Công dân Việt ra nước ngoài cần phải trang bị kiến thức và chấp hành nghiêm túc luật pháp, đặc biệt là luật pháp nước bạn, trước hết để tự bảo vệ bản thân mình khỏi những rắc rối. Nhưng vẫn rất cần “tấm đệm” bảo hộ công dân để quyền lợi những người Việt gặp bất trắc được tôn trọng, không bị xâm phạm như một số trường hợp đã diễn ra trong thực tế.

  • 1.1.2.3. Ý nghĩa của bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Bảo hộ công dân trong nhiều thập niên chỉ được hiểu rất hẹp là việc bảo hộ ở nước ngoài bằng con đường ngoại giao và lãnh sự.

Một là, thiết lập nền tảng pháp lý để bảo hộ quyền công dân một cách hữu hiệu, qua đó, thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tích cực giữa Nhà nước và công dân Ý nghĩa cơ bản và quan trọng của BHCD Việt Nam ở nước ngoài đó là khi không còn biện pháp, trình tự, thủ tục pháp lý thông thường thì sẽ cung cấp một nền tảng pháp lý để BHCD trong những hoàn cảnh, trường hợp cụ thể. Đồng thời, nền tảng pháp lý này chính là ranh giới cuối cùng, định biên giữa khả năng tác động, can thiệp của Nhà nước với quyền tự chủ (tự do, độc lập) của công dân. Do việc bảo hộ xuất phát từ quyền con người, tính chính đáng của Nhà nước, nên mục tiêu của BHCDVN ở nước ngoài là nhằm phát huy tính tích cực của người dân, cung cấp cho người dân những phương tiện hữu hiệu để có thể chủ động tự bảo vệ quyền của mình. Vì vậy, đây là cơ chế tốt nhất để kết nối được tất cả hình thức phản kháng của người dân (tố quyền) trong phạm vi quốc tế và khu vực.

Đồng thời, cơ chế này cũng giúp Nhà nước ý thức đầy đủ hơn trách nhiệm chính trị của mình trong mối quan hệ với công dân, có thái độ tích cực trong thực thi việcbảo đảm, bảo vệ quyền công dân. Căn cứ để yêu cầu Nhà nước phải thực thi trách nhiệm của mình trong quá trình BHCD một cách toàn diện và chủ động chính là vì đối tượng của bảo hộ là các quyền hiến định của công dân. Về nguyên tắc, các quyền hiến định phải được thừa nhận, bảo đảm, bảo vệ một cách trực tiếp và đương nhiên mà không cần thông qua một thủ tục trung gian nào. Không thể vin vào lí do chưa có luật cụ thể để từ chối khả năng thực thi cũng như việc bảo vệ quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những quyền không thể thực hiện nếu không có những quy định cụ thể, hướng dẫn thủ tục thực thi. Với ý nghĩa đó, việc thiết lập những nền tảng pháp lý chặt chẽ cho vấn đề này là rất cần thiết.

Hai là, đặt cơ chế bảo hộ công dân trong chỉnh thể thống nhất với các cơ chế bảo đảm và bảo vệ công dân, giúp hoàn thiện các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền công dân, quyền con người Có thể thấy, cơ chế BHCD có phạm vi rất rộng, nhưng mục tiêu cơ bản là hướng đến con người, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho con người, do đó, cũng không nằm ngoài tinh thần chung của hệ thống các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Mặt khác, vấn đề BHCD có những đặc trưng riêng, giúp bổ sung, hoàn thiện các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thông qua BHCD, việc bảo hộ đặc biệt phát huy tác dụng trong những tình huống, điều kiện hoàn cảnh cụ thể, khẩn cấp, khi các thủ tục, trình tự pháp lý thông thường không thể đáp ứng hoặc khi các biện pháp bảo đảm, bảo vệ không thể phát huy tác dụng.

Ba là làm rõ hơn nhận thức về các quyền cơ bản của công dân Dựa trên cơ sở làm rõ sự khác biệt giữa các quyền cơ bản với các quyền thông thường (không được quy định trong Hiến pháp), BHCD giúp phân định các phương thức thực hiện quyền: trực tiếp hay gián tiếp (thông qua trình tự, thủ tục luật định), làm rõ quyền nào được thực hiện trực tiếp, quyền nào phải thông qua các văn bản pháp luật hay dưới luật, tập quán (ví dụ như trong quyền sở hữu có những trường hợp phải áp dụng tập quán). Một điểm cần lưu ý trong nhận thức về các quyền cơ bản, đó là các quyền này phải được thực hiện độc lập, không nằm trong điều kiện ràng buộc với các nghĩa vụ cơ bản của công dân.

1.1.3. Điều kiện để được bảo hộ

Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài nói chung và của người lao động Việt Nam ở nước ngoài nói riêng là một trong những mục tiêu hàng đầu của công tác quản lý di cư.

  • 1.1.3.1. Điều kiện là công dân Việt Nam

Đối tượng bảo hộ là công dân của quốc gia tiến hành bảo hộ. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được xác lập trên cơ sở nguyên tắc huyết thống, nguyên tắc lãnh thổ, hoặc trên cơ sở cho nhập quốc tịch Việt Nam theo luật định. Công dân Việt Nam được hưởng quyền và gánh vác trách nhiệm công dân đối với nhà nước. Quyền và nghĩa vụ công dân Việt Nam được quy định trong hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác. Ðiều 49 Hiến pháp 2013 quy định: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam làm việc, học tập, công tác và định cư ở nước ngoài được nhà nước Việt Nam bảo hộ.

  • 1.1.3.2. Người có hai quốc tịch nhưng dùng hộ chiếu Việt Nam đến nước thứ ba

Hiện nay, trong thực tiễn ghi nhận trường hợp có hai quốc tịch. Trên thực tế thì theo quy định tại

Điều 21 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có quy định về trách nhiệm thông báo có quốc tịch nước ngoài của công dân Việt Nam như sau:

“1. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009, công dân Việt Nam vì lý do nào đó mà có quốc tịch nước ngoài và chưa mất quốc tịch Việt Nam, thì vẫn có quốc tịch Việt Nam.

  1. Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày có quốc tịch nước ngoài, người quy định tại khoản 1 Điều này hoặc cha mẹ, người giám hộ của người đó, nếu ở ngoài nước phải thông báo cho Cơ quan đại diện Việt Nam có thẩm quyền theo quy định tại Điều 19 của Nghị định này; nếu ở trong nước phải thông báo cho Sở Tư pháp nơi người đó cư trú việc họ có quốc tịch nước ngoài, kèm theo bản sao giấy tờ chứng minh có quốc tịch nước ngoài.
  2. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Sở Tư pháp có trách nhiệm ghi vào Sổ quốc tịch khi công dân Việt Nam thông báo có quốc tịch nước ngoài”.

Trước tiên, lợi ích của người song tịch hai quốc tịch là được hưởng tất cả các ưu đãi, quyền lợi về kinh tế, chính trị, phúc lợi xã hội của cả hai quốc gia mà họ là công dân. Cụ thể là họ sẽ được sống, làm việc, được học tập, được chăm sóc sức khỏe, được đứng tên và sở hữu công ty, được sở hữu và mua bán bất động sản, được bão lãnh người thân, được quyền ứng cử, bầu cử…Đặc biệt, những người song tịch hai quốc tịch sẽ thuận tiện hơn trong việc việc xuất – nhập cảnh bởi họ không cần xin visa hoặc thẻ thường trú nhân vào nước mà họ đang giữ quốc tịch. Trường hợp công dân có hai quốc tịch và sử dụng quốc tịch Việt Nam khi nhập cảnh nước thứ ba thì công dân đó vẫn mang quốc tịch Việt Nam và sẽ được áp dụng các biện pháp BHCD trong trường hợp cần thiết. Trong trường hợp này, việc thực hiện các quy định về BHCD đối với trường hợp trên sẽ đảm bảo cho quá trình áp dụng trong thực tiễn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay đối với vấn đề BHCD của từng quốc gia nói riêng và theo pháp luật thế giới nói chung.

  • 1.1.3.3. Công dân được hưởng quy chế tị nạn

Người tị nạn là người vì lí do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, hoặc thảm họa tự nhiên, xung đột vũ trang… ở ngoài đất nước mà mình có quốc tịch và không thể hoặc không muốn nhận sự bảo hộ của quốc gia mang quốc tịch. Sự gia tăng nhanh chóng của làn sóng người tị nạn là một trong các yếu tố gây mất ổn định trên toàn cầu cũng như trong mỗi khu vực. Dòng người tị nạn hiện nay rất khác với dòng người tị nạn thời kì sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Lí do tị nạn cũng rất đa dạng, phức tạp. Vì vậy, việc phân biệt rõ người tị nạn và di dân kinh tế là khó khăn. Tuy nhiên, người tị nạn bất luận vì lí do gì vẫn có quyền hưởng những quyền con người tối thiểu nhất và những chuẩn mực đối xử sơ đẳng nhất.

Vấn đề người tị nạn được đề cập trong một số văn bản pháp lí quốc tế quan trọng như Công ước về vị thế người tj nạn năm 1951, Nghị định thư bổ sung về vị thế người tị nạn năm 1967…

[1] Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.

[2] Điều 3(1)(b) Công ước Viên 1961

[3]  Từ điển tiếng Việt (2010) Nhà xuất bản Bách khoa Đà Nẵng

Xem thêm: Xây Dựng Kế Hoạch Kinh Doanh Quán COFFEE Bánh Ngọt Tới Năm 2023

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Xây Dựng Kế Hoạch Kinh Doanh Quán COFFEE Bánh Ngọt Tới Năm 2023

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH QUÁN CAFÉ BÁNH NGỌT NGỌC BÍCH TỚI NĂM 2023

  1. Tính cấp thiết của báo cáo thực tập:

Nhiều người dân lao động rất ghiền cà phê nhưng do kinh tế không khá giả nên thường ưu tiên pha cà phê tại nhà hơn là mua ở các cửa tiệm. Tuy nhiên, công việc bận bịu khiến họ khó có thời gian chăm chút cho một tách cà phê phin, còn nếu dùng cà phê hòa tan thì lại cảm thấy không “đúng chất” cà phê Việt. Thực tế này khiến tôi luôn tự hỏi: Liệu có giải pháp nào tiện lợi cho những người ghiền cà phê như họ?”.

Thấy trên thị trường vừa xuất hiện sản phẩm phin túi lọc dùng một lần để pha cà phê, lại sẵn có “máu” kinh doanh và niềm đam mê cà phê, Tôi đã ấp ủ một dự án khởi nghiệp sau khi tốt nghiệp đại học, đó là sản xuất và kinh doanh cà phê túi lọc Ngọc Bích.

Ưu điểm nổi bật của cà phê túi lọc Ngọc Bích là vừa giữ được nguyên vẹn mùi vị cà phê pha phin, vừa tiện lợi vì thời gian pha nhanh không kém cà phê hòa tan (khoảng 2 phút). Hơn nữa, công nghệ sản xuất túi lọc của Nhật Bản còn cho phép giữ lại một số vi chất trong cà phê, làm gia tăng tính nguyên chất của tách cà phê.

.4. Mục đích nghiên cứu của báo cáo thực tập:

– Tìm hiểu, phân tích thị trường café bánh ngọt để từ đó lên kế hoạch cho ý tưởng kinh doanh quán café  Lệ Huyền

  1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của báo cáo thực tập

– Phạm vi nghiên cứu : Cửa hàng quán café tại khu vực TpHCM

– Đối tượng nghiên cứu: Ngành café

Nội dung báo cáo thực tập (dự kiến) bao gồm các chương mục chính sau:

Chương/Mục Tên chương/mục Số lượng trang Ngày hoàn thành
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 15
1.1 Giới thiệu về ý tưởng kinh doanh
1.1.1 Nguồn gốc hình thành ý tưởng
1.1.2 Cơ sở thực hiện ý tưởng
1.1.3 Sự độc đáo, mới lạ của ý tưởng
1.2 Tầm nhìn và sứ mệnh
1.3 Các sản phẩm của quán
1.4 Mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp
CHƯƠNG 2 KẾ HOẠCH MARKETING 10
2.1 Tổng quan kế hoạch Marketing
2.2 Phân tích môi trường
2.2.1 Phân tích thị trường
2.2.2 Phân tích SWOT
2.2.3 Phân tích các rủi ro từ môi trường bên ngoài
2.3 Chiến lược Marketing
2.3.1 Thị trường mục tiêu
2.3.2 Định vị thị trường
2.3.3 Chiến lược sản phẩm
2.3.4 Chiến lược giá
2.3.5 Chiến lược phân phối
2.3.6 Chiến lược xúc tiến bán
CHƯƠNG 3 KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH 10
3.1 Doanh thu, chi phí, giá thành và lợi nhuận
3.2 Phân tích điểm hòa vốn
3.3 Các báo cáo tài chính
3.3.1 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
3.3.2 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
3.3.3 Bảng cân đối kế toán (bảng cân đối tài sản)
CHƯƠNG 4 KẾ HOẠCH NHÂN SỰ 10
4.1 Giới thiệu về kế hoạch nhân sự
4.2 Nội dung kế hoạch nhân sự
4.2.1 Xác định nhu cầu nhân sự
4.2.2 Xác định cơ cấu tổ chức
4.2.3 Xác định đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt
CHƯƠNG 5 DỰ PHÒNG RỦI RO 5
5.1 Rủi ro về thời tiết
5.2 Rủi ro về canh tranh
5.3 Rủi ro biến động về giá cả thị trường
5.4 Bán không hết trong ngày
…………

Xem thêm: 

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập; XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH QUÁN COFFEE BÁNH NGỌT TỚI NĂM 2023

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH QUÁN COFFEE BÁNH NGỌT TỚI NĂM 2023 các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Công tác cấp giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP:CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

1. Tính cấp thiết của đề tài báo cáo thực tập:

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Đó là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Mỗi quốc gia, mỗi địa phương có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi diện  tích, ranh giới, vị trí…Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những văn bản pháp lý có liên quan. Luật đất đai năm 2013 ra đời đã xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước thống nhất quản lý.  Hiện nay vấn đề về đất đai là vấn đề được nhiều người quan tâm, tranh chấp, khiếu nại, lấn chiếm đất đai thường xuyên xảy ra và việc giải quyết vấn đề này cực kỳ nan giải do thiếu giấy tờ pháp lý. Thực tế trong thị trường này thị trường ngầm phát triển rất mạnh mẽ. Đó là vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay. Để đảm bảo cho thị trường này hoạt động công khai, minh bạch thì yêu cầu công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận phải được tiến hành. Ngoài ra một vấn đề quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giúp cho nhà nước có cơ sở pháp lý trong việc thu tiền sử dụng đất, tăng nguồn ngân sách cho nhà nước. Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận mặc dù đã được các ngành các cấp quan tâm nhưng kết quả còn nhiều hạn chế. Việc tìm hiểu và đánh giá tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận giúp UBND tỉnh với tư cách đại diện nhà nước sở hữu về đất đai có những biện pháp đẩy nhanh công tác này. Do những yêu cầu cấp thiết như vậy nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài: Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận” làm đề tài báo cáo thực tập.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài báo cáo thực tập:

2.1. Mục đích

Đề tài tập trung khảo sát thực trạng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận. Từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.

2.2. Nhiệm vụ

–  Làm rõ cơ sở lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Khảo sát thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận từ khi luật đất đai mới có hiệu lực (2014 – 2019)

– Đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời gian tới.

3. Đối tương, phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.

– Phạm vi thời gian: Từ ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực.

– Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở), quyền sở hữu nhà ở.

4. Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng các phương pháp xử lý số liệu chủ yếu như: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử, phương pháp đọc tài liệu; phương pháp sơ đồ hóa số liệu.

Xem thêm: 

5. Bố cục của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
  • Chương 2: Thực trạng của công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận
  • Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀM THUẬN BẮC

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài:CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀM THUẬN BẮC các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

HƯỚNG DẪN THỰC TẬP TẠI DOANH NGHIỆP NGÀNH QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN

HƯỚNG DẪN THỰC TẬP TẠI DOANH NGHIỆP NGÀNH QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN

  1. Đối tượng áp dụng và thời lượng thực tập

Hệ:                              Cao đẳng chính quy

Ngành:                                   Quản trị khách sạn

Thời lượng:    2 tháng tại thực tập cơ sở, 3 tuần hoàn thành báo cáo

  1. Mục tiêu thực tập:

– Đánh giá kiến thức thực tế và kinh nghiệm làm việc của sinh viên đã tiếp thu được trong suốt quá trình thực tập tại đơn vị.

– Tạo điều kiện cho sinh viên hiểu biết thêm về mô hình hoạt động của một tổ chức kinh doanh Khách sạn-Nhà hàng chuyên nghiệp ở bên ngoài.

–  Hỗ trợ sinh viên trong công tác “Định hướng nghề nghiệp” tương lai.

  1. Nội dung và phương pháp đánh giá

+ Thực hiện được các công việc nghiệp vụ thông thường và chuẩn bị cho người học đáp ứng các thách thức ở nơi làm việc một cách có hiệu quả;

+ Quan sát và thực hành rèn luyện các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản và nâng cao đã được học trong chương trình để áp dụng vào công việc thực tế tại cơ sở;

+ Hoàn thiện kiến thức, áp dụng các hiểu biết và kỹ năng đã được học tập tại trường vào môi trường nghề nghiệp thực tế;

+ Hình thành cho người học kỹ năng nghề nghiệp của chuyên ngành quản trị khách sạn lễ tân, nhà hàng, buồng, ăn uống, phục vụ tiệc, hội nghị hội thảo.

Việc đánh giá kết quả thực tập đối với sinh viên hệ Cao đẳng Ngành QTKS, được tính như sau:

Điểm đánh giá thực tập tốt nghiệp là trung bình cộng của các điểm thành phần như sau:

+ Điểm đánh giá kiến tập của cơ sở thực tập (thang điểm 10). Trọng số 40%

+ Điểm chấm báo cáo kiến tập (thang điểm 10). Trọng số 60%

  1. Hướng dẫn nội dung viết báo cáo thực tập

Sinh viên viết báo cáo thực tập theo kết cấu quy định chung của Nhà trường. Về nội dung gồm 3 phần chính:

***************************

Mở đầu

Phần 1: TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP

  • Quá trình hình thành và phát triển
  • Đặc điểm sản phẩm, dịch vụ
  • Đặc điểm khách hàng và đối thủ cạnh tranh
  • Tình hình hoạt động kinh doanh
    • Đặc điểm nguồn nhân lực
    • Hoạt động marketing
    • Tình hình tài chính

Phần 2: THỰC TRẠNG THỰC TẬP NGHIỆP VỤ TẠI DOANH NGHIỆP

2.1. Vị trí thực tập và Nhật ký thực tập

2.1.1. Vị trí thực tập (mô tả tổng quan về vị trí thực tập, Có 3 vị trí tổng quát: Nhà hàng; Buồng phòng; Lễ tân. Hoặc các vị trí cụ thể khác như: nhân viên bán hàng và Marketing; Chăm sóc khách hàng; Nhân viên đặt buồng; Bel men; Nhân viên phòng nhân sự; ….)

2.1.2. Nhật ký thực tập

2.2. Thực trạng các công việc tại vị trí thực tập (một trong 5 nội dung sau, theo vị trí thực tập) (Hình ảnh khi thực tập – nếu có)

2.2. Nghiệp vụ nhà hàng

2.1. Chuẩn bị công việc

2.2. Đặt bàn và phục vụ

2.3. Thanh toán cho khách

2.2. Nghiệp vụ pha chế, phục vụ trong quầy bar

2.1. Chuẩn bị cho công việc

2.2. Nhận biết, sử dụng các trang thiết bị, dụng cụ quầy bar

2.3. Nhận biết các loại rượu

2.4. Pha chế, phục vụ các loại Mocktail, Cocktail cơ bản

2.2. Nghiệp vụ lễ tân

2.1. Chuẩn bị cho công việc

2.2. Nhận đặt buồng

2.3. Làm thủ tục nhận buồng cho khách

2.4. Phục vụ các yêu cầu của khách trong thời gian lưu trú

2.5. Làm thủ tục trả buồng cho khách

2.2 Nghiệp vụ buồng

2.1. Làm giường

2.2. Vệ sinh buồng tắm

2.3. Vệ sinh buồng khách

2.4. Vệ sinh khu vực công cộng

2.2 Công tác Quản trị trong khách sạn

2.1. Quản trị nhà hàng/Buồng phòng/Lễ tân

2.2. Quản trị tiền sảnh

2.3. Quản trị hậu cần

2.4. Quản trị MICE

2.5. Quản trị nhân sự

Phần 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Cơ sở lý luận (chọn 1 trong 20 nội dung ở các mục 2.2, hoặc các nội dung như: chất lượng dịch vụ, bán hàng và Marketing, Tiền sảnh và Hậu cần, mua sắm và cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và tài chính,…)

3.2. Đánh giá thực trạng (so sánh giữa lý luận và thực tế)

3.3. Đề xuất giải pháp

Kết luận: Nhận xét tổng quan về quá trình thực tập, đúc kết các kết quả thực tế đạt được và cho biết định hướng trong công việc tương lai của bạn sau khi bạn đã có kinh  nghiệm thực tế qua quá trình thực tập.

***************************

Xem thêm: 

Báo cáo thực tập tốt nghiệp khoảng từ  28 – 35 trang, không kể mở đầu, kết luận và phụ lục nếu có (phần 1, phần 2, phần 3: 7-10, 10-15, 4-6 trang) được đánh máy trên giấy A4, hình thức và các đề mục theo mẫu quy định của Nhà trường.

 CÁC QUI TRÌNH THỰC TẬP TẠI DOANH NGHIỆP NGÀNH QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài:CÁC QUI TRÌNH THỰC TẬP TẠI DOANH NGHIỆP NGÀNH QUẢN TRỊ KHÁCH SẠN các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. Khái quát chung về vốn của doang nghiệp

  • 1.1.1  – Vốn là gì?

Để hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn và sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất. Vậy vấn đề đặt ra ở đây – Vốn là gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn thì đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn. Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích luỹ chứ không phải mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền tệ khác trong các doanh nghiệp. Đứng trên các giác độ khác nhau ta có cách nhìn khác nhau về vốn.

Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì ông cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark.

Còn Paul A.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó.

Một số hàng hoá vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.

Trong cuốn “Kinh tế học” của David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.Trong đó:

Vốn hiện vật: Là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác.

Vốn tài chính: Là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp.

Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhưng mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều có thể khái quát thành:

T…… H (TLLD, TLSX) ……. SX ……. H’……T’

Để có các yếu tố đầu vào (TLLĐ, TLSX) phục vụ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi là vốn của doanh nghiệp. Vậy: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận”.

Nhưng tiền không phải là vốn. Nó chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau:

  • Thứ nhất: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định hay  nói cách khác, tiền phải được đảm bảo bằng một lượng hàng hoá có thực.
  • Thứ hai: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Có được điều đó mới làm cho vốn có đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh dù là nhỏ nhất. Nếu tiền nằm ở rải rác các nơi mà không được thu gom lại thành một món lớn thì cũng không làm gì được. Vì vậy, một doanh nghiệp muốn khởi điểm thì phải có một lượng vốn pháp định đủ lớn. Muốn kinh doanh tốt thì doanh nghiệp phải tìm cách gom tiền thành món lớn để đầu tư vào phương án sản xuất của mình.
  • Thứ ba: Khi có đủ lượng thì tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời.

Từ những vấn đề trên ta thấy vốn có một số đặc điểm sau:

  • Thứ nhất: Vốn là hàng hoá đặc biệt vì các lý do sau:

– Vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng.

+ Giá trị của vốn được thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có được nó.

+ Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh như mua máy móc, thiết bị vật tư, hàng hoá…

– Vốn là hàng hoá đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử  dụng và quyền sở hữu nó. Khi mua nó chúng ta chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó.

Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Nó không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó.  Chính vì vậy, giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của của bất kỳ doanh nghiệp nào. Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dư tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra mua nó nhằm đạt hiệu quả lớn nhất.

  • Thứ hai: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ.
  • Thứ ba: Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời.
  • Thứ tư:  Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.

Tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà có một lượng vốn nhất định, khác nhau giữa các doanh nghiệp. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty, ta cần phân loại vốn để có biện pháp quản lý tốt hơn.

  • 1.1.2 – Phân loại vốn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả lương nhân viên… Đó là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được mục tiêu kinh doanh. Nhưng vấn đề đặt ra là chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn một cách tối đa nhằm đạt mục tiêu kinh doanh lớn nhất. Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí ở từng khâu sản xuất và toàn doanh nghiệp. Cần phải tiến hành phân loại vốn, phân loại vốn có tác dụng kiểm tra, phân tích quá trình phát sinh những loại chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh. Có nhiều cách phân loại vốn, tuỳ thuộc vào mỗi góc độ khác nhau ta có các cách phân loại vốn khác nhau.

1.1.2.1 – Phân loại vốn dựa trên giác độ chu chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp  bao gồm hai loại là vốn lưu động và vốn cố định.

¨ Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ), TSCĐ dùng trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị thì chỉ có thể thu hồi dần sau nhiều chu kỳ kinh doanh.

Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:

– Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ…

– Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi chưa được sử dụng để sản xuất TSCĐ, là bộ phận vốn cố định đã hoàn thành vòng luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu.

¨ Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu động. Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hoá. Nó là bộ phận của vốn sản xuất, bao gồm giá trị nguyên liệu, vật liệu phụ, tiền lương… Những giá trị này được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hoá.Trong quá trình sản xuất, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương đã bị người lao động hao phí nhưng được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên, nhiên vật liệu được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đó. Vốn lưu động ứng với loại hình doanh nghiệp khác nhau thì khác nhau. Đối với doanh nghiệp thương mại thì vốn lưu động bao gồm: Vốn lưu động định mức và vốn lưu động không định mức. Trong đó:

– Vốn lưu động định mức: Là số vốn tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh  nghiệp trong kỳ, nó bao gồm vốn dự trữ vật tư hàng hóa và vốn phi hàng hoá để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

– Vốn lưu động không định mức: Là số vốn lưu động có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh nhưng không có căn cứ để tính toán định mức được như tiền gửi ngân hàng, thanh toán tạm ứng…Đối với doanh nghiệp sản xuất thì vốn lưu động bao gồm: Vật tư, nguyên nhiên vật liệu, công cụ, dụng cụ… là đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Không những thế tỷ trọng, thành phần, cơ cấu của các loại vốn này trong các doanh nghiệp khác nhau cũng khác nhau. Nếu như trong doanh nghiệp thương mại tỷ trọng của loại vốn này chiếm chủ yếu trong nguồn vốn kinh doanh thì trong doanh nghiệp sản xuất tỷ trọng vốn cố định lại chiếm chủ yếu. Trong hai loại vốn này, vốn cố định có đặc điểm chu chuyển chậm hơn vốn lưu động. Trong khi vốn cố định chu chuyển được một vòng thì vốn lưu động đã chu chuyển được nhiều vòng.

Việc phân chia theo cách thức này giúp cho các doanh nghiệp thấy được tỷ trọng, cơ cấu từng loại vốn. Từ đó, doanh nghiệp chọn cho mình một cơ cấu vốn phù hợp.

1.1.2.2 – Phân loại vốn theo nguồn hình thành:

Theo cách phân loại này, vốn của doanh nghiệp bao gồm: Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài số vốn tự có và coi như tự có thì doanh nghiệp còn phải sử dụng một khoản vốn khá lớn đi vay của ngân hàng. Bên cạnh đó còn có khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn hàng. Tất cả các yếu tố này hình thành nên khoản nợ phải trả của doanh nghiệp. Vậy

¨ Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong  quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợ vay của các chủ thể kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán, phải nộp ngân sách …

¨ Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần. Có ba nguồn cơ bản tạo nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, đó là:

Vốn kinh doanh: Gồm vốn góp (Nhà nước, các bên tham gia liên doanh, cổ đông, các chủ doanh nghiệp) và phần lãi chưa phân phối của kết quả sản xuất kinh doanh.

– Chênh lệch đánh giá lại tài sản (chủ yếu là tài sản cố định): Khi nhà nước cho phép hoặc các thành viên quyết định.

– Các quỹ của doanh nghiệp: Hình thành từ kết quả sản xuất kinh doanh như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi.

Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm vốn đầu tư XDCB và kinh phí sự nghiệp (khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, phát không hoàn lại sao cho doanh nghiệp chi tiêu cho mục đích kinh tế lâu dài, cơ bản, mục đích chính trị xã hội…).

1.1.2.3 – Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguốn vốn của doanh nghiệp bao gồm:

¨ Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho toàn bộ tài sản cố định của mình. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn của doanh nghiệp. Trong đó:

– Nợ dài hạn: Là các khoản nợ dài hơn một năm hoặc phải trả sau một kỳ kinh doanh, không phân biệt đối tượng cho vay và mục đích vay.

¨ Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn dùng để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: vay ngân hàng, tạm ứng, người mua vừa trả tiền…

Như vậy, ta có:

TS = TSLĐ + TSCĐ

= Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu

= Vốn tạm thời + Vốn thường xuyên

Việc phân loại  theo cách này giúp doanh nghiệp thấy được yếu tố thời gian về vốn mà mình nắm giữ, từ đó lựa chọn nguồn tài trợ cho tài sản của mình một cách thích hợp, tránh tình trạng sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho tài sản cố định.

1.1.2.4 – Phân loại vốn theo phạm vi huy động và sử dụng vốn thì nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm: nguồn vốn trong doanh nghiệp và nguồn vốn ngoài doanh nghiệp.

¨ Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động bản thân của doanh nghiệp như: Tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự trữ, dự phòng, khoản thu từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ…

¨Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh như: Vay ngân hàng, vay của các tổ chức kinh tế khác, vay của cá nhân và nhân viên trong công ty…

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, lựa chọn trong việc sử dụng nguồn vốn sao cho hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao, linh hoạt hơn và tránh được rủi ro, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể có các nguồn vốn khác như: Nguồn vốn FDI, ODA… thông qua việc thu hút các nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể tăng vốn đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt  động kinh doanh của doanh nghiệp.

Như vậy, phân loại vốn sẽ giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp lập kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự  định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô về vốn cần thiết, lựa chọn thích hợp cho từng hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả sử dụng vốn cao nhất.

  •  1.1.3 – Vai trò của vốn đối với hoạt động sản kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, xu thế hội  nhập nền kinh tế, vấn đề toàn cầu hoá về phát triển công nghệ, thông tin… Việt Nam muốn tham gia vào quá trình toàn cầu hoá thì cũng sẽ phải đối mặt với những vấn đề mà thế giơí đang phải đối mặt. Vì vậy, việc các doanh nghiệp Việt Nam có đủ khả năng cạnh tranh và hội nhập hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Yếu tố về vốn, trình độ máy móc thiết bị, công nghệ, năng lực đội ngũ cán bộ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn… trong đó, yếu tố chúng ta cần nói đến ở đây là yếu tố hiệu quả sử dụng vốn, vốn của doanh nghiệp. Vốn là tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp, là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị sản xuất kinh doanh. Nếu thiếu vốn thì qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bị ngưng trệ, đồng thời kéo theo hàng loạt các tác động tiêu cực khác đến bản thân doanh nghiệp và đời sống của người lao động. Vai trò của vốn được thể hiện rõ nét qua các mặt sau:

¨ Về mặt pháp lý: Một doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định mà lượng vốn này tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập. Trong trường hợp quá trình hoạt động kinh doanh, vốn doanh nghiệp không đạt được điều kiện mà luật pháp quy định thì kinh doanh đó sẽ bị chấm dứt hoạt động như: phá sản hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Như vậy, có thể xem vốn là một trong những cơ sở quan trọng để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.

¨ Về mặt kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nó không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ để phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong giai đoạn hiện nay – một nền kinh tế phát triển theo xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập. Ngoài ra, vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng, phát triển trên thị trường, mở rộng lưu thông và tiêu thụ hàng hoá, là chất keo dính kết quá trình và quan hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn tham gia vào tất cả các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ và cuối cùng nó lại trở về hình thái ban đầu là tiền tệ. Như vậy, sự luân chuyển vốn giúp doanh nghiệp thực hiện được hoạt động tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng của mình.

Xem thêm: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP

Cách làm bài báo thực tập: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP NGÀNH LUẬT: KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.       Tính cấp thiết của đề tài báo cáo thưc tập:

Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí rất quan trong trong hệ thống chính quyền bốn cấp của nước ta hiện nay, vấn đề này đtrợc Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi tại điều 118. Chính quyền cấp xã có chức năng: Bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quyết định của chính quyền Nhà nước cấp trên; quyết định và đảm bảo thực hiện các chủ trương biện pháp để phát huy mọi khả năng và tiềm năng của các địa phương về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong xã và làm tròn nghĩa vụ của địa phương với Nhà nước.

Nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại. Khâu quan trọng quyết định sự vững mạnh của hệ thống chính quyền cơ sở phải nói đến khâu cán bộ, hay nói cách khác cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là then chốt trong công tác xây dựng Đảng, trung tâm trong kiện toàn hệ thống Nhà nước.

Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, hàng ngày triển khai, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên chính quyền cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân.

Vì vậy, chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Về vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Như vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho.

Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là ưung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.

Với vị trí và sức ảnh hưởng to lớn đó, việc hoàn thiện đội ngũ cán bộ cấp cơ sở luôn là nội dung được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề xử lý kỷ luật đối với cán bộ cấp xã thời gian qua ở nước ta còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác phát hiện và xử lý vi phạm kỷ luật của cán bộ cấp xã, ảnh hưởng đến việc bảo đảm trật tự kỷ cương và mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

2.        Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích

Đề tài có mục đích là trên cơ sở lý luận về Kỷ luật cán bộ cấp xã – lý luận và thực tiễn”, đề tài xuất phát từ các giải pháp kỷ luật cán bộ cấp xã  cấp xã, nhằm làm trong sạch đội ngũ công chức cấp xã hiện nay.

  • Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên đề tài có những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, làm rõ có cơ sở lý luận về đội ngũ công chức cấp xã;
  • Phân tích, đánh giá thành tựu và chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế, nghiên cứu về kỷ luật cán bộ cấp xã cấp xã;
  • Đề xuất các giải pháp việc kỷ luật cán bộ cấp xã cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay.

3.       Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công chức cấp xã theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ có liên quan.
  • Khảo sát tìm hiểu thực trạng về chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay, những bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật đối với công tác xử ký kỷ luật cán bộ cấp xã tại thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An;
  • Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy trong quy trình xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã tại thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

4.       Cơ sử lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng.

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh.

5.        Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

Tác giả chọn đề tài “Xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã: thực trạng và giải pháp hoàn thiện” nhằm làm rõ vấn đề lý luận pháp lý cũng như thực trạng về công tác xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã hiện nay và mong muốn đề xuất những giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện công tác xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã nói riêng và góp phần hoàn thiện đội ngũ cán bộ cấp cơ sở nói chung.

6.        Kết cấu đề tài báo cáo thực tập:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, đề tài có 3 chương:

  • Chương 1: Khái quát về kỷ luật cán bộ cấp xã, trong đó đề cập đến khái niệm, đặc điểm của cán bộ cấp xã; quyền hạn và nghĩa vụ, những điểm cần lưu ý trong quá trình truy cứu kỷ luật, đặc biệt là đề cập làm rõ quá trình phát triển các qui định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ cấp xã.
  • Chương 2: Phân tích các qui định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã, trình tự thủ tục, quy trình, chủ thể, đối tượng… từ đó làm rõ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện nhằm làm sáng tỏ những đề xuất giải pháp trong phần chương 3.
  • Chương 3: Đánh giá thực trạng về chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay, những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã và đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới.

Xem thêm: 

Cách làm bài báo cáo thưc tập: KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN THỰC TIỄN

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN THỰC TIỄN các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149