Quy Định Pháp Luật Về Bảo Hộ Công Dân Việt Nam Ở Nước Ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CÔNG DÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

2.1. Quy định pháp luật Quốc tế

2.1.1. Quy định trong công ước Quốc tế

  • 2.1.1.1. Công ước viên về quan hệ ngoại giao 1961

Trong quá trình xây dựng và phát triển các Công ước của Liên hợp quốc thì Công ước Viên về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18/4/1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về Quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao. Bắt đầu có hiệu lực ngày 24/4/1964 là Công ước quốc tế quy định đầy đủ nhất các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Công ước Viên khẳng định mục đích của việc ưu đãi, miễn trừ không để làm lợi cho các cá nhân mà tạo điều kiện thuận lợi để cho các cơ quan đại diện ngoại giao và các nhà ngoại giao thực hiện có hiệu quả các chức năng của họ với tư cách là đại diện cho nước cử. Việc ký kết công ước này sẽ góp phần vào việc phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước, không phụ thuộc vào chế độ nhà nước và xã hội khác nhau.

Công ước Viên về quan hệ ngoại giao (1961) là Công ước quốc tế quy định đầy đủ nhất các quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Công ước Viên khẳng định mục đích của việc ưu đãi, miễn trừ không để làm lợi cho các cá nhân mà tạo điều kiện thuận lợi để cho các cơ quan đại diện ngoại giao và các nhà ngoại giao thực hiện có hiệu quả các chức năng của họ với tư cách là đại diện cho nước cử. Việc ký kết Công ước này sẽ góp phần phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước, không phụ thuộc vào chế độ nhà nước và xã hội khác nhau.

Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao 1961 khẳng định các quyền ưu đãi, miễn trừ không để làm lợi cho các cá nhân mà nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan ngoại giao và nhà ngoại giao thực hiện có hiệu quả chức năng của họ. Công ước này đã góp phần phát triển quan hệ giữa các nước. Các cơ quan lãnh sự và viên chức lãnh sự được hưởng ưu đãi, miễn trừ theo Công ước Viên về quan hệ lãnh sự), về cơ bản tương tự ưu đãi, miễn trừ ngoại giao. Là nước đã tham gia Công ước Viên về quan hệ ngoại giao, Theo quy định của Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao (1961), các cơ quan đại diện ngoại giao một nước trên lãnh thổ của nước sở tại có thẩm quyền “bảo vệ lợi ích quốc gia và của công dân mình trong giới hạn của luật pháp quốc tế” nói chung.

Trên thực tế thì cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài phải thực hiện nhiều biện pháp nhằm thực hiện chức năng bảo hộ cho công dân nước mình. Tuy nhiên, các hoạt động đó phải phù hợp với các quy tắc, quy định của đất nước đã cử và nước đặt trụ sở cơ quan ngoại giao. Việc thực hiện hoạt động ngoại giao phải trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ngoại giao và các hoạt động được phép thực hiện nhằm đảm bảo cho quá trình giúp đỡ và bảo hộ các công dân ở nước ngoài đạt kết quả cao. Vấn đề thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao còn cho thấy mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau và khi có sự cắt đứt sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các công dân có mối liên hệ, khi quốc gia cắt đứt quan hệ ngoại giao cũng có nghĩa là mối quan hệ giữa hai nước đã xấu đi và từ đó quyền lợi của công dân có thể sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, cơ quan đại diện ngoại giao phải có trách nhiệm duy trì mối quan hệ hữu nghị giữa nước cử và nước tiếp nhận để đảm bảo địa vị pháp lí của công dân mình được ổn định hơn. Đồng thời, cơ quan đại diện ngoại giao trong phạm vi thẩm quyền của mình ở nước sở tại có nhiệm vụ đảm bảo cho các quyền lợi của công dân nước mình được thực hiện và khôi phục lợi ích đã bị vi phạm. Như vậy,

  • 2.1.1.2. Công ước viên về quan hệ Lãnh sự 1963

Công ước Vienna về quan hệ lãnh sự (1963) quy định chức năng và thẩm quyền lãnh sự của cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự. Theo quy định của Công ước Vienna 1963 thì có quy định “phù hợp với thông lệ và thủ tục của quốc gia sở tại, (cơ quan lãnh sự) có thể đại diện hoặc thu xếp đại diện thích hợp cho công dân nước mình trước tòa án và các cơ quan chức năng của nước sở tại để yêu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời phù hợp với pháp luật của quốc gia sở tại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình, trong trường hợp người đó không có người đại diện hoặc vì những lý do mà người đó không thể thu xếp được người đại diện đúng lúc.”

Tại điều 2 Công ước quy định về việc thành lập một cơ quan lãnh sự. Theo đó, khi các bên thiết lập quan hệ ngoại giao thì cũng đồng thời thiết lập quan hệ lãnh sự, trừ khi các bên không muốn như vậy. Trong trường hợp việc thiết lập quan hệ ngoại giao không bao gồm việc thiết lập quan hệ lãnh sự thì việc lập quan hệ lãnh sự giữa các nước được tiến hành theo thoả thuận giữa các nước với nhau. Như vậy, tương tự như việc thành lậpcơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự cũng được thành lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia. Hiện nay, chức năng lãnh sự do cơ quan lãnh sự thực hiện là chủ yếu, nhưng trong một số trường hợp nếu được nước tiếp nhận đồng ý thì cơ quan đại diện ngoại giao cũng có thể thực hiện chức năng của cơ quan lãnh sự và ngược lại, cơ quan lãnh sự cũng có thể thực hiện chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao với điều kiện là “Trong một nước mà nước cử không có cơ quan đại diện ngoại giao và cũng không uỷ nhiệm một cơ quan đại diện ngoại giao của một nước thứ ba làm đại diện” (điều 17 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963). Khác với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự chỉ thực hiện một số chức năng lãnh sự trong một phạm vi nhất định và chỉ liên lạc với chính quyền địa phương tại khu vực lãnh sự (tuy nhiên trong một số trường hợp phù hợp với pháp luật và tập quán của nước tiếp nhận hoặc các điều ước quốc tế có liên quan cho phép, cơ quan lãnh sự có thể liên lạc với nhà chức trách trung ương có thẩm quyền của nước tiếp nhận- điều 38 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963). Vì vậy, Cơ quan lãnh sự là cơ quan quan hệ đối ngoại của nhà nước ở nước ngoài, nhằm thực hiện chức năng lãnh sự trong một khu vực lãnh thổ nhất định của nước tiếp nhận, trên cơ sở thỏa thuận giữa hai nước hữu quan[1].

Tại khu vực lãnh sự của mình, cơ quan lãnh sự có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước và công dân của quốc gia nước cử. Cụ thể như: Bảo vệ tại nước tiếp nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, pháp nhân và công dân nước cử, trong phạm vi luật pháp quốc tế cho phép; Giúp đỡ công dân bao gồm cả thể nhân và pháp nhân của nước cử; Phù hợp với thực tiễn và thủ tục hiện hành ở nước tiếp nhận, đại diện hoặc thu xếp việc đại diện thích hợp cho công dân nước cử trước toà án và các nhà chức trách khác của nước tiếp nhận, nhằm đưa ra những biện pháp tạm thời phù hợp với luật và quy định của nước tiếp nhận để bảo vệ các quyền và lợi ích của các công dân đó, nếu vì vắng mặt hoặc vì một lý do nào khác, họ không thể kịp thời bảo vệ các quyền và lợi ích của họ; thực hiện một số chức năng có tính chất hành chính… (Điều 5 Công ước Viên về quan hệ lãnh sự 1963). Tương tự như Công ước Viên về quan hệ ngoại giao, Công ước Viên về quan hệ lãnh sự cũng quy định các quyền cần thiết để cho cơ quan lãnh sự hoàn thành tốt chức năng của mình tại nước tiếp nhận. Chẳng hạn như quyền không bị phân biệt đối xữ; Các quyền ưu đãi miễn trừ nhưng phạm vi những quyền này hẹp hơn. Bên cạnh đó cũng quy định nghĩa vụ của nước tiếp nhận phải tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan lãnh sự thực hiện chức năng của mình.

Như vậy, có thể thấy luật pháp quốc tế bảo đảm các cơ quan đại diện của một nước có quyền bảo vệ lợi ích của công dân nước mình, nhưng với điều kiện phải trong giới hạn cho phép của luật pháp quốc tế và phù hợp với thông lệ và pháp luật của quốc gia sở tại. Điều này có nghĩa, các cơ quan đại diện cần tiến hành bảo hộ công dân bằng các biện pháp và cách thức phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế như nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia sở tại.

2.1.2. Các Hiệp định song phương giữa Việt Nam và một số quốc gia liên quan đến bảo hộ công dân

  • 2.1.2.1. Các Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực giữa Việt Nam và một số quốc gia

Trong quá trình tạo mối quan hệ giữa các nước thì Việt Nam đã ký kết và thực hiện các Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với một số quốc gia. Miễn thị thực nghĩa là quốc gia cho phép một số đối tượng đặc biệt được xuất nhập cảnh ưu tiên, không phân biệt mục đích xuất nhập cảnh. Công dân nước khác khi được miễn thị thực sẽ được lưu trú trong một khoảng thời gian mà không cần làm những thủ tục cũng như đóng các khoản lệ phí liên quan tới việc xuất nhập cảnh. Đối với miễn thị thực song song thì Việt Nam đã ký Hiệp định, thỏa thuận miễn thị thực với 91 nước, trong đó 04 Hiệp định với Ca-mơ-run, Nam-mi-bi-a, Ê-ti-ô-pi-a và Pa-na-ma (HCPT) chưa xác định hiệu lực. Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho công dân 13 nước là Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Bê-la-rút và cho quan chức Ban thư ký ASEAN.

Hiện tại Việt Nam miễn visa thị thực cho công dân một số nước với các hình thức chủ yếu như sau:

– Miễn visa thị thực theo hiệp định song phương (Có đi có lại): Bao gồm miễn thị thực cho các quốc gia Asian theo đó Việt Nam miễn Visa thị thực cho các công dân đến từ các quốc gia Đông Nam Á (Asian) và các quốc gia này cũng miễn thị thực visa cho công dân Việt Nam khi nhập cảnh các quốc gia này. Thời hạn miễn thị thực song phương không quá 30 ngày.

– Miễn thị thực đơn phương (Chỉ đơn phương phía Việt Nam miễn thị thực Visa): Hiện tại Việt Nam miễn thị thực cho công dân của 13 quốc gia bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Nga, Belarus, Đức, Pháp, Anh, Italy và Tây Ban Nha. Thời hạn của miễn thị thực đơn phương này không quá 15 ngày.

– Miễn thị thực 5 năm: Là hình thức miễn thị thực dài nhất mà Chính phủ Việt Nam ưu tiên giành cho những người nước ngoài có nguồn gốc Việt Nam hoặc có quan hệ hôn nhân, huyết thống với công dân Việt Nam không phân biệt quốc gia. Người được hưởng hình thức miễn thị thực này mỗi lần nhập cảnh vào Việt Nam được miễn Visa 90 ngày trong thời hạn 5 năm. Hết thời hạn miễn thị thực người nước ngoài có quyền xin cấp mới Giấy miễn thị thực..

Vai trò của hoạt động cấp thị thực tạo điều kiện để công dân thực hiện các hoạt động về kinh tế – xã hội, văn hóa và du lịch giữa các quốc gia. Đồng thời, trong các hiệp định song phương, đa phương và đơn phương về miễn thị thực có các điều khoản nhằm bảo hộ các công dân của các quốc gia đã ký kết và Việt Nam nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội nói chung.

  • 2.1.2.2. Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lí giữa Việt Nam và một số nước

Từ năm 1980 đến năm 2007, trong lĩnh vực dân sự và thương mại, Việt Nam đã ký được 15 Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự với nước ngoài, chủ yếu là các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây (tới nay, Hiệp định ký với CHDC Đức đã hết hiệu lực).[2] Cụ thể là, trong giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992, Việt Nam đã ký được 06 Hiệp định và kể từ khi ban hành Hiến pháp 1992 đến trước khi ban hành Luật Tương trợ tư pháp 2007, Việt Nam ký thêm được 09 Hiệp định Tương trợ tư pháp với các nước[3]. Nội dung của các Hiệp định được ký trong hai giai đoạn này về cơ bản là giống nhau. Các Hiệp định này đều điều chỉnh một cách tổng thể hai mảng quan hệ, đó là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các nước ký kết và phương pháp thống nhất các quy tắc lựa chọn pháp luật áp dụng để giải quyết các xung đột pháp luật và quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự, trong một số Hiệp định còn giải quyết cả vấn đề dẫn độ hoặc chuyển giao người bị kết án phạt tù.

Có thể nhận thấy, trong những năm trở lại đây, Việt Nam đã rất tích cực hoạt động nhằm nâng cao vị thế của mình trong cộng đồng ASEAN, trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương và cả trên bình diện toàn cầu bằng cách chủ động tổ chức hoặc tham gia các diễn đàn, hội nghị và chủ động đưa ra những đề xuất, sáng kiến trong việc nâng cao hiệu quả hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại, đặc biệt là đưa ra những đề xuất đối với các thành viên ASEAN.

Thông qua hoạt động thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp góp phần tạo lòng tin của các công dân, pháp nhân vào hệ thống tư pháp được cải thiện do các vụ việc, tranh chấp về dân sự có nhiều cơ hội hơn để được xem xét một cách công bằng, khách quan cho tất cả các bên đương sự và cho những người có quyền và lợi ích liên quan, cho dù người đó cư trú ở trong hay ngoài nước, bản án đã được tòa án trong nước tuyên được bảo đảm được công nhận và thi hành ở nước ngoài. Bên cạnh đó, các cơ quan tư pháp của Việt Nam xác định được đầu mối rõ ràng để liên hệ, yêu cầu các cơ quan tư pháp của nước ngoài hỗ trợ tiến hành công tác xét xử. Quy trình thực hiện ủy thác tư pháp rõ ràng hơn, đơn giản hơn, rút ngắn được thời gian thực hiện, rút bớt được nhiều giai đoạn, nhiều thủ tục hơn (được miễn hợp pháp hóa giấy tờ, được gửi trực tiếp qua cơ quan trung ương chứ không phải đi vòng qua cơ quan đại diện ngoại giao, được miễn một số loại phí thực hiện ủy thác, ngôn ngữ thực hiện được xác định rõ ràng từ trước…).

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện nay, Việt Nam và các nước trong khu vực vẫn chưa coi trọng đúng mức cơ chế hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại. Hợp tác về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại hiện nay giữa Việt Nam và hầu hết các nước trong khối ASEAN cũng như giữa các nước trong khối với nhau vẫn chỉ tiến hành trên cơ sở của nguyên tắc có đi có lại đối với từng vấn đề cụ thể. Việt Nam vẫn chưa ký kết hoặc tham gia một công ước quốc tế nào về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Trong quan hệ dân sự, hình sự nói chung thì Việt Nam và các quốc gia về thông thường điều chỉnh tổng thể cả hai mảng quan hệ là tương trợ tư pháp giữa các cơ quan tư pháp các quốc gia và quy tắc chọn pháp luật để áp dụng giải quyết xung đột pháp luật cũng như quy tắc xác định thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong giải quyết vác vấn đề dân sự, lao động, hôn nhân gia đình và hình sự.

Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và gia đình trước hết được điều chỉnh bởi các quy định chung bao gồm các quy định về vấn đề bảo hộ pháp lý, cơ quan thực hiện và cơ quan đầu mối tương trợ tư pháp, cách thức liên hệ, phạm vi vấn đề tương trợ tư pháp, ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp, thực hiện uỷ thác tư pháp, triệu tập người làm chứng, người giám định, cách thức tống đạt giấy tờ, quy định về từ chối tương trợ tư pháp, chi phí tương trợ tư pháp.

Ngoài ra, các hiệp định tư pháp với các quy định lựa chọn pháp luật để giải quyết các xung đột pháp luật trong lĩnh vực nhân thân, hôn nhân gia đình, thừa kế. Ngoài ra, phần này có chương quy định chi tiết về điều kiện và thủ tục miễn giảm án phí, thi hành quyết định về án phí của toà án, gửi các văn bản giấy tờ về hộ tịch và chương quy định về vấn đề công nhận và cho thi hành quyết của Toà án và cơ quan có thẩm quyền khác, trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành. Đồng thời, xử lý xung đột pháp luật, thẩm quyền về tố tụng khá chi tiết, hợp lý và chặt chẽ. Từ đó, góp phần thay đổi gây không ít khó khăn cho việc thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp và áp dụng để giải quyết các vụ việc phát sinh giữa công dân các quốc gia.

Xem thêm: Khái quát tính hình người Việt Nam ở nước ngoài

  • 2.1.2.3. Hiệp định lao động với một số nước

Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế trong và ngoài nước thì vấn đề xuất khẩu lao động ra nước ngoài nên việc xây dựng các hiệp định lao động là điều hoàn toàn cần thiết. Thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công tác BHCD và pháp nhân VNONN, Nhà nước ta đã ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế, thể chế hóa nhiều văn bản pháp luật. Đến nay, Chính phủ đã mở 67 Đại sứ quán, 23 Tổng Lãnh sự quán và 7 Cơ quan Lãnh sự danh dự ở khắp các châu lục. Chính phủ đã cho phép tiếp tục mở thêm một số CQĐD trong vòng ba năm tới, đưa con số CQĐD VNONN lên gần 100 cơ quan. Với bộ máy này, công tác bảo hộ, giúp đỡ công dân ở nước ngoài đã và chắc chắn sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực. Tại các Đại sứ quán ở địa bàn có đông lao động Việt Nam như: Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Qatar, UAE, Séc…, đều đã thành lập Ban Quản lý lao động. Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội rà soát ký kết Hiệp định lao động với các nước: Lào năm 1995, Ô-man năm 2007, Qatar năm 2008, LB Nga năm 2008, Kazakstan 2008, UAE 2009, Canada 2010… Đây là những hành lang pháp lý quan trọng, là cơ sở để bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động VNONN. Với các quy định và hình thành nền tảng pháp lý về BHLĐ cho công dân Việt Nam khi lao động ở nước ngoài. Đồng thời, các CQĐD ta ở nước ngoài đã cấp hàng chục nghìn hộ chiếu cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm đáp ứng nguyện vọng giữ quốc tịch Việt Nam và thuận lợi khi về nước thăm thân, mua nhà tại Việt Nam; cấp hàng nghìn hộ chiếu cho người bị mất hộ chiếu nhằm tạo địa vị pháp lý để họ đủ điều kiện xin cư trú hoặc gia hạn cư trú ở nước ngoài; cấp Thông hành cho lao động bị về nước trước hạn hoặc người bị trục xuất về nước.

CQĐD ta ở nước ngoài đã thực hiện nhiều vụ việc bảo hộ quyền lợi của người lao động ghi trong hợp đồng như thiếu tiền lương, mất việc, tai nạn bị thương, bị chết trong khi lao động… và các quyền lợi khác liên quan. Điển hình là việc Đại sứ quán Việt Nam tại Qatar đã đấu tranh bảo vệ quyền lợi của lao động Nguyễn Văn Bảy, bị tai nạn lao động dẫn đến tử vong ngày 14/10/2008 tại Qatar, phía chủ đã phải chấp nhận bồi thường cho gia đình anh Bảy với số tiền hơn 54.000 USD.

Bộ Ngoại giao đã chủ động chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Công an, các công ty phái cử nhanh chóng kịp thời tổ chức Đoàn công tác liên ngành ra nước ngoài xử lý các vấn đề  xung đột giữa người lao động Việt Nam với chủ sử dụng lao động, với nước sở tại hoặc trong nội bộ lao động Việt Nam, không để ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, cũng như hình ảnh của người Việt Nam ở nước ngoài.

2.2. Quy định trong pháp luật Việt Nam

2.2.1. Hiến pháp 2013

Để tồn tại và phát triển, con người buộc phải liên kết lại với nhau thành những cộng đồng, thành xã hội. Và cùng với những sự liên kết đó, trong mỗi cộng đồng đã sinh ra quyền lực công cộng – một phương tiện để duy trì trật tự trong mỗi cộng đồng, cũng như trong toàn xã hội và để phối hợp hoạt động của cả cộng đồng, của xã hội theo những định hướng nhất định vì những mục tiêu chung nhằm đạt tới tự do, hạnh phúc cho mỗi người và cho cả cộng đồng. Khi trong xã hội xuất hiện nhà nước, cũng có nghĩa là xuất hiện quyền lực nhà nước – một loại quyền lực công cộng đặc biệt bắt nguồn từ nhân dân, thuộc về nhân dân nhưng không do toàn thể nhân dân tự thực hiện mà do một bộ máy chuyên môn thay mặt nhân dân thực hiện. Song trên thực tế, sự kiểm soát của nhân dân đối với quyền lực nhà nước từ xưa đến nay luôn là vấn đề rất khó khăn; trong nhiều trường hợp có thể nói là nhân dân hầu như không thể kiểm soát được quyền lực nhà nước. Để nhân dân có thể kiểm soát được quyền lực nhà nước, làm cho nhà nước thực sự là “của dân, do dân và vì dân” thì cần phải xác lập một cơ chế giao và kiểm soát quyền lực chặt chẽ từ phía nhân dân đối với các cơ quan nhà nước, những người đại diện cho nhân dân để nhân dân không bị biến thành công cụ, phương tiện phục vụ lợi ích cho những người mà họ đã uỷ quyền, thì biện pháp tốt nhất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là phải xây dựng nhà nước pháp quyền.

Hiến pháp là tổng thể các quy phạm pháp luật cơ bản do nhà nước quy định về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, về vị trí, chức năng tổ chức bộ máy nhà nước. Các quy phạm hiến pháp là cơ sở, nguyên tắc để xậy dựng và tổ chức thực hiện các ngành luật khác Ngày 28/11/2013, tuyệt đại đa số Đại biểu Quốc hội khóa XIII đã thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để trở thành Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi (sau đây gọi là Hiến pháp 2013). Hiến pháp 2013 trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và bảo đảm quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Trong đó, các quyền và nghĩa vụ của công dân là được nhà nước bảo hộ trong và ngoài nước, đặc biệt là người Việt Nam ở nước ngoài, điều này được ghi nhận tại Điều 75 Hiến pháp 1992 và ghi nhận tại Điều 17 của Hiến pháp 2013: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì nó giúp cho các cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân của nước ta xác định chính xác đối tượng được bảo hộ, cũng như phù hợp với pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó thể hiện chính sách xem người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, người Việt Nam ra nước ngoài vì bất kì lí do gì cũng được nhà nước Việt Nam bảo hộ. Đồng thời nhà nước Việt Nam chỉ bảo hộ cho những người là công dân Việt Nam, còn đối với những người đã từng là công dân Việt Nam nhưng vì lí do nào đó mà không còn quốc tịch Việt Nam thì nhà nước Việt Nam không có trách nhiệm bảo hộ họ. Bên cạnh đó, Hiến pháp 2013 cũng quy định nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ được Hiến pháp năm 2013 quy định một cách toàn diện và đầy đủ tại điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Như vậy, mọi công dân Việt Nam không phân biệt thành phần, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội…đều được nhà nước bảo hộ như nhau khi ở trong nước cũng như nước ngoài. Các cơ quan có thẩm quyền nói chung và các cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân nói riêng phải thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này bởi vì chỉ khi nào nguyên tắc này được đảm bảo thì xã hội mới có công bằng, quyền và lợi ích của công dân mới được đảm bảo một cách tốt nhất. Đồng thời, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến pháp thì Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Điều 17). Đây là một quy định rất quan trọng để xác định một người là công dân Việt Nam, theo đó, một người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam và sẽ được Nhà nước Việt Nam bảo hộ. Như vậy, Hiến pháp 2013 với tính chất là một đạo luật có giá trị pháp lí cao nhất ở nước ta hiện nay đã quy định một cách cơ bản các quyền của công dân Việt Nam. Trong đó quyền được nhà nước Việt Nam bảo hộ là một quyền rất quan trọng, nó không chỉ thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với công dân mình mà còn thể hiện chủ quyền của nhà nước Việt Nam so với các quốc gia khác.

2.2.2. Luật Cơ quan đại diện 2009, sửa đổi bổ sung 2017

Bên cạnh Hiến pháp thì các quy định của Luật cơ quan đại diện 2009, sửa đổi bổ sung 2017 là nền tảng để cơ quan đại diện thực hiện quy định về CQĐD ở nước ngoài

Luật CQĐD gồm 6 chương, 36 điều được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 02/9/2009, bãi bỏ Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 và Pháp lệnh Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1993. Việc ban hành Luật CQĐD có ý nghĩa quan trọng, tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi để các CQĐD thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam tại quốc gia và tổ chức quốc tế tiếp nhận, triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hoá, lãnh sự, công tác cộng đồng, thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại. Luật CQĐD xác định rõ hơn về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐD cũng như cơ chế phối hợp công tác giữa các CQĐD trên cùng một địa bàn, giữa cơ quan trong nước và CQĐD, qua đó tăng cường hiệu quả hoạt động của CQĐD và việc triển khai thực hiện các chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận.

Bên cạnh giải pháp về con người, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường hiện diện ngoại giao của Việt Nam tại các nước trong điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước, cần bổ sung quy định về cơ chế Đại sứ đặt tại Việt Nam, phụ trách quan hệ với các nước mà không thành lập CQĐD. Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 186 nước, song cơ quan đại diện ngoại giao mới được thành lập tại 71 nước; đối với 115 quốc gia còn lại, có 44 người đứng đầu các cơ quan đại diện tại quốc gia khác được cử kiêm nhiệm theo quy định tại Điều 20 của Luật CQĐD. Trong một số trường hợp, cơ chế Đại sứ kiêm nhiệm không phát huy hiệu quả do số lượng nước kiêm nhiệm nhiều trong khi CQĐD được tổ chức theo mô hình nhỏ gọn, đặc biệt ở khu vực Châu Phi. Có trường hợp nước được kiêm nhiệm không có cơ quan đại diện ngoại giao tại nước kiêm nhiệm, dẫn đến khó khăn trong liên lạc, xử lý công việc. Với quy định của Luật cơ quan đại diện ở nước ngoài sẽ tạo nền tảng quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài. Đồng thời, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; đảm bảo thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý thống nhất các hoạt động bảo hộ công dân, triển khai thực hiện các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 trong thực tế.

Xem thêm: Lý Luận Chung Về Cơ Chế Pháp Lý Bảo Hộ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

2.3. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân và pháp nhân ở nước ngoài

  • 2.3.1.1. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân ở nước ngoài

Hiện nay chưa có một văn bản pháp lý quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của cá nhân ở nước ngoài được áp dụng chung cho các cá nhân nói chung trên toàn thế giới. Nói cách khác, tùy mỗi quốc gia sẽ có hệ thống pháp lý quy định chung cho các cá nhân về quyền và nghĩa vụ khi ở trên đất nước họ.

Có thể xem quyền và nghĩa vụ của công dân có thể được chia thành hai loại gồm quyền và nghĩa vụ cơ bản (được quy định mang tính xác lập, khởi đầu trong Hiến pháp – luật cơ bản của Nhà nước) và quyền, nghĩa vụ khác hay quyền, nghĩa vụ không cơ bản (được quy định mang tính xác lập, khởi đầu trong các luật, bộ luật). Phân tích sâu hơn, chúng ta nhận thấy Hiến pháp chỉ quy định những quyền và nghĩa vụ công dân hoặc có tính quan trọng đặc biệt, hoặc vừa có tính quan trọng đặc biệt vừa có tính khái quát so với quyền và nghĩa vụ luật định. Ví dụ: nghĩa vụ nộp thuế là nghĩa vụ chung được hiến định; còn nghĩa vụ nộp một loại thuế cụ thể như thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu… sẽ do luật định. Hoặc quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (theo suy đoán) là quyền chung.Trong trường hợp này, nếu chỉ lấy việc xác định độ tuổi làm căn cứ thì quyền bầu cử dường như là quyền khá cụ thể; tuy nhiên, nếu tiếp tục xét một số trường hợp công dân tuy đủ tuổi hiến định song vẫn bị tước quyền bầu cử theo luật định (ngoại lệ) thì quyền này lại vẫn mang tính khái quát.

Về nghĩa vụ của cá nhân ở nước ngoài thì bên cạnh việc tuân thủ các quy định của nước sở tại thì nghĩa vụ của cá nhân phải chấp hành các nghĩa vụ của nước mà công dân mang quốc tịch. Việc quy định về nghĩa vụ của các cá nhân ở nước ngoài được các quy định tại văn bản pháp luật của các quốc gia, các hiệp định tương trợ tư pháp mà các quốc gia đã ký kết và các công ước mà các quốc gia là thành viên.

  • 2.3.1.2. Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân ở nước ngoài

Pháp nhân nước ngoài chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật của nước pháp nhân mang quốc tịch điều chỉnh: năng lực pháp luật dân sự, điều kiện thủ tục thành lập, hợp nhất, giải thể, chia tách,thanh lí tài sản khi giải thể pháp nhân; Pháp luật nước sở tại quy định quyền và nghĩa vụ của pháp nhân, lĩnh vực hoạt động, phạm vi hoạt động, quy mô ngành nghề…Quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài còn thể hiện ở chỗ khi các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân nước ngoài bị xâm phạm thì nó sẽ được nước mà nó mang quốc tịch thực hiện sự bảo hộ pháp lý về mặt ngoại giao.

Nội dung quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài là không giống nhau giữa các nước và ngay trong cùng một nước ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau quy chế pháp lý đối với pháp nhân nước ngoài không phải lúc nào cũng giống nhau. Ví dụ: Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam được xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Về năng lực pháp luật dân sụ của pháp nhân nước ngoài theo quy định tại Điều 765 Bộ luật dân sự thì được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó thành lập; trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác; trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên nội dung cụ thể của quy chế pháp lý dân sự của các loại pháp nhân ước ngoài hoạt động ở Việt Nam không hoàn toàn giống nhau.

2.4. Trách nhiệm của Nhà nước trong công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài trong công tác lãnh sự

2.4.1. Ở trong nước

  • 2.4.1.1. Bộ ngoại giao

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấn đề trọng tâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Có thể nói một trong những vấn quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Nhà nước luôn có cơ chế luôn đảm bảo cho công dân được những lợi ích và các quyền công dân và ngược lại công dân phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà pháp luật quy định. Việc thiết lập các cơ chế để thúc đẩy và hoàn thiện mối quan hệ này cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về cơ chế pháp lí cũng như thực tiễn cuộc sống. Một những quyền mà mọi công dân quan tâm nhất hiện nay là quyền được bảo hộ khi đang ở nước ngoài, đây là trách nhiệm của quốc gia đối với công dân của mình. Bộ Ngoại giao là cơ quan quản lý Nhà nước về công tác lãnh sự đồng thời cũng trực tiếp xử lý những công việc về lãnh sự theo quy định của pháp luật và phân công của Chính phủ đối với các pháp nhân, công dân Việt Nam và các đối tượng nước ngoài. Bộ Ngoại giao nói riêng trong việc nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài.

Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan xây dựng kế hoạch hoạt động đối ngoại nhà nước; tổng hợp kế hoạch hoạt động đối ngoại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương; hướng dẫn tổ chức thực hiện và yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện các hoạt động đối ngoại; chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn nghiệp vụ đối ngoại cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương…Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Việc này thể hiện rất rõ trong quy định của Hiến pháp, của Luật Tổ chức Chính phủ. Quyền của công dân và trách nhiệm của Nhà nước đã được quy định rõ trong những văn bản pháp luật cao nhất. Quán triệt tinh thần đó, từ trước đến nay, việc bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài, Chính phủ đã giao cho Bộ Ngoại giao chủ trì. Bộ Ngoại giao chủ trì về mặt nhà nước đối với công tác bảo hộ công dân.

2.4.1.2. Sở ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh

Sở ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Sở Ngoại vụ) là đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao (sau đây viết tắt là Bộ) có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (sau đây viết tắt là Bộ trưởng) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác đối ngoại và triển khai các nhiệm vụ đối ngoại theo ủy quyền của Bộ trưởng tại các tỉnh, thành từ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trở vào phía Nam (sau đây viết tắt là các tỉnh, thành phía Nam); đồng thời, tham mưu và trực tiếp triển khai các hoạt động đối ngoại của thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Thành phố) theo sự chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố. Đồng thời, xây dựng các chủ trương, chính sách, chương trình, kế hoạch liên quan đến công tác đối ngoại của Thành phố; tổng hợp, báo cáo tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có yếu tố nước ngoài trên địa bàn Thành phố; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật nhằm quản lý hoạt động đối ngoại tại Thành phố đồng thời tăng cường công tác bảo hộ công dân nói chung trong thực tế.

2.2.1.3. Cơ quan ngoại vụ các Tỉnh, Thành phố

Dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước và sự thống nhất, phối hợp từ Trung ương đến tất cả các địa phương trong cả nước, công tác đối ngoại đã được triển khai đồng bộ, hiệu quả, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.  Công tác ngoại vụ tại địa phương sẽ tạo ra bước chuyển về chất đối với tiến trình hội nhập quốc tế tại địa phương, phát huy tối đa tiềm năng địa phương. Các cơ quan ngoại vụ địa phương cần nâng tầm tham gia, đóng góp về công tác nghiên cứu, tham mưu chính sách, phát huy tốt hơn nữa “vai trò đầu mối”, “trái tim hội nhập” tại địa phương trong nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế và kịp thời đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực thi các cam kết hội nhập quốc tế và khu vực trong hoạt động bảo hộ công dân trong nước và nước ngoài đáp ứng với yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước nói chung.

2.4.2. Ở ngoài nước

2.4.2.1. Bộ ngoại giao

Hiện nay thì vấn đề bảo hộ công dân ở nước ngoài được xem xét đánh giá hết sức quan trọng. Thực tiễn lãnh đạo Bộ Ngoại giao triệu đại sứ, trao công hàm; trả lời phỏng vấn báo chí của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao hoặc Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao về vấn đề bảo về quyền lợi của công dân; Cục Lãnh sự (Bộ ngoại giao) gửi công hàm cho Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội hoặc Cục trưởng Cục Lãnh sự mời Đại sứ nước liên quan trao công hàm; Bộ Ngoại giao ta gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao nước ngoài liên quan; cử Đoàn công tác liên ngành trong nước ra nước ngoài thực hiện bảo hộ. Ngoài ra, một số bộ, ngành hoặc hội nghề nghiệp, đoàn thể quần chúng hoặc một số chính khách của ta phát biểu hoặc ra tuyên bố công khai phản đối, lên án việc xâm phạm lợi ích hoặc đối xử thô bạo với công dân, pháp nhân của ta.

Bộ Ngoại giao đã phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội rà soát ký kết Hiệp định lao động với các nước: Lào năm 1995, Ô-man năm 2007, Qatar năm 2008, LB Nga năm 2008, Kazakstan 2008, UAE 2009, Canada 2010… Đây là những hành lang pháp lý quan trọng, là cơ sở để bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, tạo nền tảng cơ bản cho hoạt động BHCD

2.4.2.2. Tổng lãnh sự quán

Tổng Lãnh sự có chức năng tham mưu, tổng hợp giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quản lý Nhà nước chuyên ngành về công tác lãnh sự và hoạt động di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của pháp nhân và công dân Việt Nam; chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát, kiểm tra các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và Phòng Lãnh sự thuộc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chức năng lãnh sự phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế; phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan xử lý các vấn đề liên quan đến lãnh sự.

2.4.2.3. Lãnh sự quán

Tại điều 8 Luật Cơ quan đại diện đã quy định trách nhiệm của cơ quan đại diện trong việc thực hiện chức năng bảo hộ lãnh sự đối với lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam, cụ thể thông qua các hoạt động như:

Thứ nhất, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật nước sở tại, điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó ký kết hoặc tham gia và phù hợp với tập quán quốc tế; Bảo đảm cho công dân Việt Nam ở nước tiếp nhận được hưởng những quyền cơ bản theo luật pháp quốc tế như quyền được nước tiếp nhận bảo vệ tính mạng, tài sản và các quyền hợp pháp khác, quyền được tự do cư trú, đi lại, hành nghề…

Thứ hai, đại diện cho pháp nhân, công dân Việt Nam trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự hoặc đại diện cho công dân Việt Nam trước toà án và các cơ quan có thẩm quyền khác của nước tiếp nhận trong quá trình tố tụng hình sự, dân sự… khi pháp nhân hoặc công dân Việt Nam ở trong khu vực lãnh sự vắng mặt mà không ủy nhiệm người khác đại diện hoặc vì lý do nào đó không tự bảo vệ được các quyền lợi của họ.

Thứ ba, liên hệ với cơ quan có thẩm quyền địa ương nhằm đảm bảo việc bắt giữ, tạm giữ, xét xử công dân ta được thực hiện theo đúng pháp luật nước tiếp nhận, các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước tiếp nhận ký kết hoặc tham gia và tập quán quốc tế. Nếu phát hiện sự vi phạm từ nước tiếp nhận thì cơ quan đại diện yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền trong khu vực lãnh sự thi hành các biện pháp khắc phục.

Thứ tư, liên hệ với cơ quan thẩm quyền nước tiếp nhận để thu xếp việc đi thăm công dân Việt Nam. Khi gặp công dân Việt Nam bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị tù thì cơ quan đại diện tìm hiểu sự việc vi phạm, điều kiện tạm giữ và tâm tư, nguyện vọng của đương sự để có những biện pháp giúp đỡ thích hợp, cung cấp những thông tin pháp lý cần thiết… Cơ quan đại diện có thể nhận chuyển thư từ, tiền, quà cho công dân Việt Nam nếu pháp luật nước tiếp nhận cho phép, giúp đương sự liên lạc với thân nhân hoặc cung cấp thông tin về đương sự cho thân nhân của họ. Bên cạnh đó các cơ quan đại diện còn thực hiện nhiệm vụ lãnh sự khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và không trái với pháp luật của quốc gia tiếp nhận hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên.

2.5. Quy định pháp luật về các hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam được quy định trong pháp luật hiện hành

2.5.1. Các hoạt động mang tính chất công vụ (cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính, giấy tờ xuất nhập cảnh…)

Cơ quan đại diện có chức năng về cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời thực hiện hoạt động cấp, bổ sung, hủy bỏ thị thực; cấp, thu hồi, hủy bỏ giấy miễn thị thực của Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này được quy định tại Điều 8 Luật cơ quan đại diện sửa đổi bổ sung. Trình tự thủ tục được thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của công dân.

2.5.2. Thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân và pháp nhân nước mình

Quá trình công dân Việt Nam ở nước ngoài sinh sống ở nước ngoài thì việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, pháp nhân nước mình là điều rất quan trọng. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó khủng hoảng, thực hiện công tác tìm kiếm, hỗ trợ công dân Việt Nam tại nước ngoài trong các vụ động đất, thiên tai, hỏa hoạn hoặc khủng bố, tai nạn gây thiệt hại lớn về người và tài sản xảy ra một cách bất thường ở nhiều nơi trên thế giới. Công tác BHCD cũng ghi nhận sự tăng cường, chủ động trong thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức tới người dân, doanh nghiệp để có thể tự bảo vệ lợi ích của bản thân, tránh rơi vào tình huống bất lợi khi ở nước ngoài cũng như kịp thời thông báo, liên hệ với CQĐD Việt Nam khi gặp khó khăn. Điều này được quy định tại Điều 8 Luật cơ quan đại diện sửa đổi, bổ sung.

2.5.3. Các hoạt động hỗ trợ và bảo vệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

 Khẳng định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động BHCD Việt Nam ở nước ngoài nên các hoạt động của hoạt động bảo hộ lãnh sự đối với lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân Việt Nam và thực hiện các nhiệm vụ lãnh sự được quy định tại Điều này trên cơ sở tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia tiếp nhận và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế. Điều này thể hiện ở việc thăm lãnh sự và liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận.

Trong trường hợp công dân, pháp nhân Việt Nam không thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo pháp luật và thực tiễn của quốc gia tiếp nhận, cơ quan đại diện có thể tạm thời đại diện hoặc thu xếp người đại diện cho họ tại tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận cho đến khi có người khác làm đại diện cho họ hoặc họ tự bảo vệ được quyền và lợi ích của mình. Đồng thời, cơ quan lãnh sự cùng là cơ quan tổng hợp, báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình hình cộng đồng và công tác vận động, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về chính sách, biện pháp thích hợp nhằm duy trì sự gắn bó của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đất nước; khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn bản sắc dân tộc, tham gia hoạt động trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước.

Đặc biệt, tạo điều kiện và hỗ trợ cho người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập với xã hội tại quốc gia tiếp nhận; kiến nghị biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam, ngăn ngừa hành động phân biệt đối xử đối với cộng đồng người Việt Nam ở quốc gia tiếp nhận.

2.5.4. Hỗ trợ tài chính cho công dân Việt Nam ở nước ngoài theo quy chế hoạt động quỹ bảo hộ công dân theo quy định pháp luật

Thực hiện hoạt động bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài thì vấn đề hỗ trợ tài chính cho công dân ở nước ngoài cũng là một trong những quy định cơ bản trong quá trình BHCD ở nước ngoài. Trên cơ sở đó thì Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhận Việt Nam ở nước ngoài được thành lập theo Quyết định số 119/2007/QĐTTg ngày 25/07/2007 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm thực hiện hiệu quả hơn công tác bảo hộ công dân. Quỹ có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại giao về tổ chức và hoạt động. Cục Lãnh sự là cơ quan được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ủy quyền trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của Quỹ.

Quỹ Bảo hộ công dân hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Hỗ trợ các hoạt động của các Cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài để thực hiện việc bảo hộ các quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của côang dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài. Hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp cho công dân, pháp nhân Việt Nam gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà họ không thể tự khắc phục được tại thời điểm đó.

Hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài là một chế định pháp lý quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước trong tình hình mới. Chế định này ra đời và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nhà nước. Trải qua quá trình sửa đổi, bổ sung, các quy định của nhà nước đối với vấn đề này đã được hệ thống hóa trong các văn bản quản lý nhà nước nói chung và thực sự khẳng định vai trò quan trọng của các quy định này trong hoạt động quản lý nhà nước về vấn đề này nói chung. Quá trình áp dụng các văn bản vào hiện thực, góp phần đảm bảo tính chặt chẽ trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài theo quy định pháp luật hiện hành. Thực hiện tốt pháp luật về vấn đề này nói chung là tiền đề quan trọng trong việc thực hiện công tác bảo hộ công dân nói chung. Chương 2 của khóa luận đã phân tích một cách khái quát về hoạt động bảo hộ công dân ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở lý luận về bảo hộ công dân ở nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam ở Chương 1, tác giả vận dụng thực tiễn tại Việt Nam, đánh giá tình hình thi hành, kết quả đạt được và những hạn chế, khó khăn gặp phải trong quá trình thi hành pháp luật về bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài được trình bày trong Chương 3 của khóa luận

Cách Làm Đề Tài Báo Cáo Thực Tập: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÔNG DÂN VIỆT NAM Ở  NƯỚC NGOÀI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ VÔNG DÂN VIỆT NAM Ở  NƯỚC NGOÀI
 các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Khái quát tính hình người Việt Nam ở nước ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1.3. Khái quát tình hình người Việt Nam ở nước ngoài

1.3.1. Tình hình người Việt Nam ra nước ngoài ở một số khu vực và nước đến chủ yếu

Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có những đặc điểm nổi bật như là cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số có xu hướng định cư lâu dài ở nước sở tại chủ yếu là Mỹ, Úc, Canada các nước Tây Âu (khoảng 80% đã nhập quốc tịch nước cư trú nhưng hầu hết chưa thôi quốc tịch Việt Nam), trong khi phần lớn người Việt tại Nga, Đông Âu vẫn coi cuộc sống là tạm cư, khi có điều kiện sẽ trở về nước. Số liệu thống kê đưa ra tại hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài lần thứ hai với chủ đề “Tầm nhìn đến năm 2020 – Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và phát triển cùng đất nước” do Bộ Ngoại giao, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài. Theo Ủy ban, hàng năm có khoảng 500.000 lượt kiều bào về nước, trong đó có nhiều chuyên gia, trí thức về làm việc và nhiều người về tìm hiểu cơ hội đầu tư kinh doanh. Hiện có trên 3.500 doanh nghiệp trong nước được thành lập hoặc góp vốn của kiều bào với tổng số vốn đăng ký khoảng 8,4 tỷ USD.

Dù được coi là thành đạt nhanh ở Mỹ và phương Tây, tiềm lực kinh tế của cộng đồng còn hạn chế, thu nhập bình quân đầu người nhìn chung thấp so với mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống ổn định, nhiều người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội). Trong khi đó, tiềm lực chất xám, trí tuệ của cộng đồng khá lớn, nhất là ở phương Tây, Nga, Đông Âu. Hiện ước tính trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 300.000 người. Một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển tập trung ở Bắc Mỹ, Tây Âu và Châu Đại dương ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiển học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán.

Theo số liệu của Học viện Ngoại giao năm 2012, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có trên 4 triệu người và phân bố không đồng đều tại 103 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới, 98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á, Đông Bắc Á và châu Đại Dương. Với gần 1.8 triệu người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ, vào thời điểm năm 2010 số người Việt ở Mỹ chiếm khoảng một nửa số Việt kiều trên toàn thế giới. Họ thường tập trung ở miền Tây, chủ yếu là ở các khu vực đô thị.

1.3.2. Tình hình người Việt Nam ở nước ngoài lao động, học tập, sinh sống, du lịch

Hiện nay, với khoảng 4,5 triệu người Việt Nam hiện đang sinh sống, lao động, học tập tại 109 nước và vùng lãnh thổ. Cộng đồng người Việt ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nước sở tại, có tiềm lực đáng kể về tri thức và kinh tế. Tại Việt Nam, hiện có khoảng 6.300 doanh nghiệp kiều bào đang hoạt động với 2.000 dự án tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực thương mại, du lịch, xây dựng, bất động sản, sản xuất hàng xuất khẩu, nuôi trồng, xuất khẩu thủy hải sản…Hiện có khoảng 3.000 doanh nghiệp của NVNONN đang hoạt động đầu tư trên cả nước với tổng số vốn góp và vốn đăng ký là 4 tỷ USD tại 52 tỉnh, thành phố, tập trung chủ yếu ở các thành phố và trung tâm kinh tế lớn. Theo công bố từ Ngân hàng Thế giới, năm 2019, lượng kiều hối về Việt Nam ước đạt 16,7 tỷ USD. Liên tiếp 3 năm, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh nhận lượng kiều hối đổ về cao nhất cả nước, ước tính năm 2019 đạt 5,6 tỷ USD. Bên cạnh đó, hoạt động của các hội nhóm, cá nhân, chuyên gia, trí thức, doanh nhân kiều bào đã tạo tiếng vang trong cộng đồng, góp phần quan trọng kết nối doanh nhân, trí thức, chuyên gia người Việt trên toàn thế giới; thúc đẩy đóng góp của kiều bào cho sự phát triển khoa học công nghệ, kinh tế-xã hội của đất nước.

Xem thêm:

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Lý Luận Chung Về Cơ Chế Pháp Lý Bảo Hộ Người Việt Nam Ở Nước Ngoài

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

1.1. Lý luận chung về cơ chế pháp lí bảo hộ công dân

1.1.1. Khái niệm về cơ chế pháp lý bảo hộ công dân

  • 1.1.1.1. Khái niệm người Việt Nam ở nước ngoài

Trên cơ sở nghiên cứu thì có nhiều khái niệm về người Việt Nam ở nước ngoài thường được quy định một cách thống nhất. Về cơ bản thì người Việt Nam ở nước ngoài thường được hiểu là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Việc người Việt định cư ra nước ngoài đã có từ rất lâu, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, định cư ở nhiều quốc gia, khu vực. Hiện nay, số lượng người Việt định cư ở nước ngoài ngày càng nhiều và tạo nên các cộng đồng người Việt ở nước ngoài rất đa dạng và phức tạp.

Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam được hiểu tương đối thông nhất. Điều 3 khoản 3 Nghị định Số:138/2006/NĐ-CP quy định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam đang cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Khái niệm này được khẳng định lại tại Điều 3 khoản 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Như vậy, theo khái niệm trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm 2 loại là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.

– Công dân Việt Nam là những người có quốc tịch Việt Nam (Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013).

– Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài (Điều 3 khoản 4 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008).

  • 1.1.1.2. Khái niệm bảo hộ công dân theo pháp luật quốc tế

ặt ra khi cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia sở tại có hành vi trái pháp luật quốc tế, qua đó gây phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình ở nước ngoài. Quốc gia mà người đó là công dân có trách nhiệm tiến hành các biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân mình. Đồng thời, trách nhiệm BHCD còn bao gồm các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới công dân của nước này. Trong trường hợp này, sự bảo hộ bao gồm những hoạt động mang tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính cho công dân; các hoạt động có tính chất trợ giúp như giúp đỡ về tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, giúp đỡ công dân trong việc chuyển thông tin, bảo quản giấy tờ, tài sản…; hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam, áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân nước mình trên cơ sở phù hợp quy định pháp luật quốc gia sở tại hoặc luật pháp quốc tế[1].

Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 được kí kết trong Hội nghị Liên hợp quốc về Tổ chức Quốc tế tại San Fransisco (Mỹ) ngày 26 tháng 6 năm 1945 bởi 50 nước thành viên đầu tiên, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 10 năm 1945, sau khi được phê chuẩn bởi 5 nước thành viên sáng lập (Trung Hoa, Liên Bang Xô Viết, Pháp, Anh, Hoa Kỳ) và phần đông các nước khác mặc dù vấn đề bảo hộ công dân không được nêu trực tiếp trong Hiến chương, nhưng thông qua những điều khoản của Hiến chương này mà các nguyên tắc bảo hộ công dân được thể hiện. Những quy định kể trên là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng hệ thống văn kiện quốc tế về các vấn đề có liên quan đến bảo hộ công dân. Dựa trên tinh thần và nguyên tắc của bản hiến chương này, các công ước quốc tế ra đời tạo cơ sở pháp lí cho quốc gia bảo hộ quyền và lợi ích của công dân mình trên toàn thế giới. Trong đó, hai công ước cơ bản nhất là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự.

Đối với Công ước Viên về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18/4/1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về Quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao. Bắt đầu có hiệu lực ngày 24/4/1964 là công ước quan trọng nhất được các quốc gia sử dụng trong lĩnh ngoại giao của mình. Chức năng của cơ quan đại diện ngoại giao được quy định cụ thể tại điều 3 Công ước Viên về quan hệ ngoại giao 1961. Theo đó, cơ quan đại diện ngoại giao đại diện cho nước cử đi tại nước tiếp nhận; Bảo vệ quyền lợi của nước cử đi và của công dân nước cử đi tại nước tiếp nhận trong phạm vi cho phép của luật quốc tế…như vậy, một trong những chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao là bảo vệ quyền lợi của công dân nước mình. Công ước không quy định cụ thể biện pháp mà cơ quan đại diện ngoại giao phải thực hiện để bảo hộ công dân. Theo thông lệ thì cơ quan này có thể tiến hành bảo hộ công dân nước mình bằng nhiều biện pháp nhưng phải phù hợp với pháp luật nước cử, pháp luật nước nhận cũng như pháp luật quốc tế. Cơ quan đại diện có thể giúp đỡ công dân mình khi họ gặp khó khăn, đại diện cho công dân tham gia vào quá trình tố tụng… Và đây cũng là nền tảng cơ bản để cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thực hiện các hoạt động BHCD trong quá trình thực thi chức năng, nhiệm vụ được giao trong thực tế.

Công ước Vienna về quan hệ ngoại giao (1961), các cơ quan đại diện ngoại giao một nước trên lãnh thổ của nước sở tại có thẩm quyền “bảo vệ lợi ích quốc gia và của công dân mình trong giới hạn của luật pháp quốc tế” nói chung.[2]

Từ những phân tích trên, một cách chung nhất, có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm BHCD theo pháp luật quốc tế như sau: BHCD theo pháp luật quốc tế là trách nhiệm chính trị – pháp lý của Nhà nước trong việc thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời tiến hành bảo vệ khi có sự đe doạ, cản trở hoặc xâm hại đến các quyền và lợi ích đó. Như vậy, hoạt động bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính chất công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biến các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ dự định tới… vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính chất phức tạp hơn như hỏi thăm lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền lợi và lợi ích tối thiểu theo quy định của nước sở tại hoặc luật quốc tế.

  • 1.1.1.3. Khái niệm bảo hộ công dân theo pháp luật Việt Nam

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân luôn là vấn đề trọng tâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia. Có thể nói một trong những vấn quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Nhà nước luôn có cơ chế luôn đảm bảo cho công dân được những lợi ích và các quyền công dân và ngược lại công dân phải thực hiện nghĩa vụ pháp lí mà pháp luật quy định. Việc thiết lập các cơ chế để thúc đẩy và hoàn thiện mối quan hệ này cũng luôn là những nội dung được quan tâm hàng đầu về cơ chế pháp lí cũng như thực tiễn cuộc sống. Một những quyền mà mọi công dân quan tâm nhất hiện nay là quyền được bảo hộ khi đang ở nước ngoài, đây là trách nhiệm của quốc gia đối với công dân của mình. Theo quy định của Hiến pháp 2013 thì việc bảo hộ công dân là một trong những chức năng của nhà nước nhằm bảo hộ các công dân mang quốc tịch của mình, đồng thời đây cũng là một trong các quyền rất cơ bản và quan trọng của mỗi công dân trong và ngoài lãnh thổ của quốc gia mà mình mang quốc tịch. Đồng thời, Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cũng nhấn mạnh: Việc bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài là hết sức cần thiết, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, góp phần nâng cao vị thế chính trị, uy tín của Nhà nước Việt Nam đối với thế giới cũng như trong con mắt người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần khuyến khích, động viên ngày càng nhiều hơn sự đóng góp của bà con Việt kiều vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thuật ngữ “bảo hộ” (dưới góc độ là một chức năng của Nhà nước) đã được sử dụng từ rất lâu, nhưng không theo cách hiểu hiện đại, mà theo cách hiểu về một trạng thái do Nhà nước đô hộ áp đặt cho quốc gia bị đô hộ. Nghĩa “che chở, giúp đỡ, chăm lo” ở đây chỉ thuần túy mang cái nhìn bề trên từ phía Nhà nước.

Về mặt ngữ nghĩa, “bảo hộ” là thuật ngữ có gốc từ Hán Việt. “Bảo” nghĩa là giữ gìn, “hộ” nghĩa là che chở. Như vậy, “bảo hộ” nghĩa là giữ gìn, che chở. Theo Từ điển Tiếng Việt: Bảo hộ là “che chở, không để bị tổn thất[3]. Bảo hộ theo nghĩa như vậy được sử dụng trong nhiều tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Trong pháp luật quốc tế thì bảo hộ công dân

Theo nghĩa rộng, BHCD là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không chỉ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài mà còn bao gồm hoạt động giúp đỡ về mọi mặt..

Theo nghĩa hẹp, BHCD được hiểu là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài khi những quyền và lợi ích này bị xâm hại.. Như vậy, BHCD theo nghĩa hẹp chỉ diễn ra khi sự xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mình. Với cách tiếp cận như vậy, BHCD theo nghĩa hẹp có nội dung khá gần gũi với khái niệm bảo vệ quyền trong quan niệm hiện hành. Tuy nhiên, BHCD dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng đều là trách nhiệm chính trị – pháp lý, mà trước hết là trách nhiệm chính trị, xuất phát từ yêu cầu về tính chính đáng của nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân được thực hiện các quyền một cách tốt nhất. Nhà nước phải có trách nhiệm với công dân, ngay cả trong các trường hợp nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của mình, hoặc khi pháp luật chưa đầy đủ hoặc thiếu vắng nhưng vì các nguyên tắc nhân đạo, công bằng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, mà vẫn phải thực hiện trách nhiệm. Đây là mối quan hệ giữa nhà nước và công dân của một quốc gia cụ thể, liên quan đến khía cạnh các quyền cơ bản của công dân.

1.1.2. Vai trò,mục đích, ý nghĩa của cơ chế pháp lí bảo hộ công dân ở nước ngoài

  • 1.1.2.1. Vai trò đối với cá nhân, pháp nhân và Nhà nước

Trên cơ sở những tri thức chung về quy định bảo hộ  công dân thấy vai trò của pháp luật trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân thể hiện ở những điểm căn bản sau đây:

Một là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện cụ thể hóa một cách chính thống phần lớn các quyền, tự do của công dân, con người vốn được ghi nhận trong Hiến pháp, trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội. Nhiều quyền cơ bản của công dân chỉ có thể được bảo đảm, bảo vệ khi được cụ thể hóa thành các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài, nhờ có các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài mà các quy phạm hiến pháp về quyền con người, quyền công dân được thực hiện trên thực tế. Như vậy, các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để đưa các quy phạm hiến pháp về quyền con người, quyền công dân đi vào đời sống xã hội, nói cách khác nhờ có quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài mà nhiều quy phạm Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân được thực hiện trên thực tế.

Hai là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để giới hạn quyền lực của hệ thống quản lý hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức của công dân. Đồng thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài xác định giới hạn quyền lực hành chính công với công dân, đảm bảo mọi công dân Việt Nam ở nước ngoài đều được bảo vệ  và pháp luật nói chung hay cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài nói riêng cần phải tạo ra giới hạn sự can thiệp của nhà nước trong hoạt động BHCD trong thực tế. Thông qua đó mà cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài đã bảo đảm, bảo vệ quyền của con người, quyền công dân đối với các công dân Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn hiện nay.

Ba là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện để công dân có thể kiểm soát được các hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thông qua hoạt động của cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài thì người dân phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình để từ đó các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài để các cơ quan thay mặt nhà nước thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo quyền công dân trong trường hợp bị xâm phạm.

Bốn là, cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài là phương tiện pháp lý, bằng các phương thức, cách thức, biện pháp khác nhau để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân khi bị xâm hại trong hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội. Trong thực tiễn đời sống nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm hại từ phía công quyền, hay từ các chủ thể khác, được bảo vệ, khôi phục trước hết bởi bộ máy hành chính, dựa trên cơ sở các quy phạm cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài và các loại quy phạm pháp luật khác mà cơ quan hành chính nhà nước có thể sử dụng, áp dụng. Có thể nói không một trường hợp vi phạm pháp luật nào xâm phạm tới quyền của con người, của công dân mà trước hết lại không được bảo vệ bởi hệ thống hành chính nhà nước. Đây là một thực tiễn trong đời sống nhà nước và xã hội cần được nhận thức và thừa nhận. Từ đó mà có nhận thức đầy đủ và khách quan về vai trò của bộ máy hành chính, của cơ chế pháp lý BHCD ở nước ngoài

  • 1.1.2.2. Mục đích bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Mục tiêu cao nhất trong công tác bảo hộ công dân là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam. Chính phủ không “bảo hộ” cho những hành động sai trái, vi phạm pháp luật nước sở tại.

Công dân Việt ra nước ngoài cần phải trang bị kiến thức và chấp hành nghiêm túc luật pháp, đặc biệt là luật pháp nước bạn, trước hết để tự bảo vệ bản thân mình khỏi những rắc rối. Nhưng vẫn rất cần “tấm đệm” bảo hộ công dân để quyền lợi những người Việt gặp bất trắc được tôn trọng, không bị xâm phạm như một số trường hợp đã diễn ra trong thực tế.

  • 1.1.2.3. Ý nghĩa của bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài

Bảo hộ công dân trong nhiều thập niên chỉ được hiểu rất hẹp là việc bảo hộ ở nước ngoài bằng con đường ngoại giao và lãnh sự.

Một là, thiết lập nền tảng pháp lý để bảo hộ quyền công dân một cách hữu hiệu, qua đó, thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng, hợp tác, tích cực giữa Nhà nước và công dân Ý nghĩa cơ bản và quan trọng của BHCD Việt Nam ở nước ngoài đó là khi không còn biện pháp, trình tự, thủ tục pháp lý thông thường thì sẽ cung cấp một nền tảng pháp lý để BHCD trong những hoàn cảnh, trường hợp cụ thể. Đồng thời, nền tảng pháp lý này chính là ranh giới cuối cùng, định biên giữa khả năng tác động, can thiệp của Nhà nước với quyền tự chủ (tự do, độc lập) của công dân. Do việc bảo hộ xuất phát từ quyền con người, tính chính đáng của Nhà nước, nên mục tiêu của BHCDVN ở nước ngoài là nhằm phát huy tính tích cực của người dân, cung cấp cho người dân những phương tiện hữu hiệu để có thể chủ động tự bảo vệ quyền của mình. Vì vậy, đây là cơ chế tốt nhất để kết nối được tất cả hình thức phản kháng của người dân (tố quyền) trong phạm vi quốc tế và khu vực.

Đồng thời, cơ chế này cũng giúp Nhà nước ý thức đầy đủ hơn trách nhiệm chính trị của mình trong mối quan hệ với công dân, có thái độ tích cực trong thực thi việcbảo đảm, bảo vệ quyền công dân. Căn cứ để yêu cầu Nhà nước phải thực thi trách nhiệm của mình trong quá trình BHCD một cách toàn diện và chủ động chính là vì đối tượng của bảo hộ là các quyền hiến định của công dân. Về nguyên tắc, các quyền hiến định phải được thừa nhận, bảo đảm, bảo vệ một cách trực tiếp và đương nhiên mà không cần thông qua một thủ tục trung gian nào. Không thể vin vào lí do chưa có luật cụ thể để từ chối khả năng thực thi cũng như việc bảo vệ quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những quyền không thể thực hiện nếu không có những quy định cụ thể, hướng dẫn thủ tục thực thi. Với ý nghĩa đó, việc thiết lập những nền tảng pháp lý chặt chẽ cho vấn đề này là rất cần thiết.

Hai là, đặt cơ chế bảo hộ công dân trong chỉnh thể thống nhất với các cơ chế bảo đảm và bảo vệ công dân, giúp hoàn thiện các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền công dân, quyền con người Có thể thấy, cơ chế BHCD có phạm vi rất rộng, nhưng mục tiêu cơ bản là hướng đến con người, tạo lập môi trường sống tốt nhất cho con người, do đó, cũng không nằm ngoài tinh thần chung của hệ thống các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Mặt khác, vấn đề BHCD có những đặc trưng riêng, giúp bổ sung, hoàn thiện các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thông qua BHCD, việc bảo hộ đặc biệt phát huy tác dụng trong những tình huống, điều kiện hoàn cảnh cụ thể, khẩn cấp, khi các thủ tục, trình tự pháp lý thông thường không thể đáp ứng hoặc khi các biện pháp bảo đảm, bảo vệ không thể phát huy tác dụng.

Ba là làm rõ hơn nhận thức về các quyền cơ bản của công dân Dựa trên cơ sở làm rõ sự khác biệt giữa các quyền cơ bản với các quyền thông thường (không được quy định trong Hiến pháp), BHCD giúp phân định các phương thức thực hiện quyền: trực tiếp hay gián tiếp (thông qua trình tự, thủ tục luật định), làm rõ quyền nào được thực hiện trực tiếp, quyền nào phải thông qua các văn bản pháp luật hay dưới luật, tập quán (ví dụ như trong quyền sở hữu có những trường hợp phải áp dụng tập quán). Một điểm cần lưu ý trong nhận thức về các quyền cơ bản, đó là các quyền này phải được thực hiện độc lập, không nằm trong điều kiện ràng buộc với các nghĩa vụ cơ bản của công dân.

1.1.3. Điều kiện để được bảo hộ

Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài nói chung và của người lao động Việt Nam ở nước ngoài nói riêng là một trong những mục tiêu hàng đầu của công tác quản lý di cư.

  • 1.1.3.1. Điều kiện là công dân Việt Nam

Đối tượng bảo hộ là công dân của quốc gia tiến hành bảo hộ. Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam được xác lập trên cơ sở nguyên tắc huyết thống, nguyên tắc lãnh thổ, hoặc trên cơ sở cho nhập quốc tịch Việt Nam theo luật định. Công dân Việt Nam được hưởng quyền và gánh vác trách nhiệm công dân đối với nhà nước. Quyền và nghĩa vụ công dân Việt Nam được quy định trong hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác. Ðiều 49 Hiến pháp 2013 quy định: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam làm việc, học tập, công tác và định cư ở nước ngoài được nhà nước Việt Nam bảo hộ.

  • 1.1.3.2. Người có hai quốc tịch nhưng dùng hộ chiếu Việt Nam đến nước thứ ba

Hiện nay, trong thực tiễn ghi nhận trường hợp có hai quốc tịch. Trên thực tế thì theo quy định tại

Điều 21 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có quy định về trách nhiệm thông báo có quốc tịch nước ngoài của công dân Việt Nam như sau:

“1. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2009, công dân Việt Nam vì lý do nào đó mà có quốc tịch nước ngoài và chưa mất quốc tịch Việt Nam, thì vẫn có quốc tịch Việt Nam.

  1. Trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày có quốc tịch nước ngoài, người quy định tại khoản 1 Điều này hoặc cha mẹ, người giám hộ của người đó, nếu ở ngoài nước phải thông báo cho Cơ quan đại diện Việt Nam có thẩm quyền theo quy định tại Điều 19 của Nghị định này; nếu ở trong nước phải thông báo cho Sở Tư pháp nơi người đó cư trú việc họ có quốc tịch nước ngoài, kèm theo bản sao giấy tờ chứng minh có quốc tịch nước ngoài.
  2. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Sở Tư pháp có trách nhiệm ghi vào Sổ quốc tịch khi công dân Việt Nam thông báo có quốc tịch nước ngoài”.

Trước tiên, lợi ích của người song tịch hai quốc tịch là được hưởng tất cả các ưu đãi, quyền lợi về kinh tế, chính trị, phúc lợi xã hội của cả hai quốc gia mà họ là công dân. Cụ thể là họ sẽ được sống, làm việc, được học tập, được chăm sóc sức khỏe, được đứng tên và sở hữu công ty, được sở hữu và mua bán bất động sản, được bão lãnh người thân, được quyền ứng cử, bầu cử…Đặc biệt, những người song tịch hai quốc tịch sẽ thuận tiện hơn trong việc việc xuất – nhập cảnh bởi họ không cần xin visa hoặc thẻ thường trú nhân vào nước mà họ đang giữ quốc tịch. Trường hợp công dân có hai quốc tịch và sử dụng quốc tịch Việt Nam khi nhập cảnh nước thứ ba thì công dân đó vẫn mang quốc tịch Việt Nam và sẽ được áp dụng các biện pháp BHCD trong trường hợp cần thiết. Trong trường hợp này, việc thực hiện các quy định về BHCD đối với trường hợp trên sẽ đảm bảo cho quá trình áp dụng trong thực tiễn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay đối với vấn đề BHCD của từng quốc gia nói riêng và theo pháp luật thế giới nói chung.

  • 1.1.3.3. Công dân được hưởng quy chế tị nạn

Người tị nạn là người vì lí do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, hoặc thảm họa tự nhiên, xung đột vũ trang… ở ngoài đất nước mà mình có quốc tịch và không thể hoặc không muốn nhận sự bảo hộ của quốc gia mang quốc tịch. Sự gia tăng nhanh chóng của làn sóng người tị nạn là một trong các yếu tố gây mất ổn định trên toàn cầu cũng như trong mỗi khu vực. Dòng người tị nạn hiện nay rất khác với dòng người tị nạn thời kì sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Lí do tị nạn cũng rất đa dạng, phức tạp. Vì vậy, việc phân biệt rõ người tị nạn và di dân kinh tế là khó khăn. Tuy nhiên, người tị nạn bất luận vì lí do gì vẫn có quyền hưởng những quyền con người tối thiểu nhất và những chuẩn mực đối xử sơ đẳng nhất.

Vấn đề người tị nạn được đề cập trong một số văn bản pháp lí quốc tế quan trọng như Công ước về vị thế người tj nạn năm 1951, Nghị định thư bổ sung về vị thế người tị nạn năm 1967…

[1] Luật Quốc tịch Việt Nam 2008.

[2] Điều 3(1)(b) Công ước Viên 1961

[3]  Từ điển tiếng Việt (2010) Nhà xuất bản Bách khoa Đà Nẵng

Xem thêm: Xây Dựng Kế Hoạch Kinh Doanh Quán COFFEE Bánh Ngọt Tới Năm 2023

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO HỘ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Công tác cấp giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP:CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

1. Tính cấp thiết của đề tài báo cáo thực tập:

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Đó là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Mỗi quốc gia, mỗi địa phương có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi diện  tích, ranh giới, vị trí…Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những văn bản pháp lý có liên quan. Luật đất đai năm 2013 ra đời đã xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước thống nhất quản lý.  Hiện nay vấn đề về đất đai là vấn đề được nhiều người quan tâm, tranh chấp, khiếu nại, lấn chiếm đất đai thường xuyên xảy ra và việc giải quyết vấn đề này cực kỳ nan giải do thiếu giấy tờ pháp lý. Thực tế trong thị trường này thị trường ngầm phát triển rất mạnh mẽ. Đó là vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay. Để đảm bảo cho thị trường này hoạt động công khai, minh bạch thì yêu cầu công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận phải được tiến hành. Ngoài ra một vấn đề quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giúp cho nhà nước có cơ sở pháp lý trong việc thu tiền sử dụng đất, tăng nguồn ngân sách cho nhà nước. Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận mặc dù đã được các ngành các cấp quan tâm nhưng kết quả còn nhiều hạn chế. Việc tìm hiểu và đánh giá tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận giúp UBND tỉnh với tư cách đại diện nhà nước sở hữu về đất đai có những biện pháp đẩy nhanh công tác này. Do những yêu cầu cấp thiết như vậy nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài: Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận” làm đề tài báo cáo thực tập.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài báo cáo thực tập:

2.1. Mục đích

Đề tài tập trung khảo sát thực trạng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận. Từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.

2.2. Nhiệm vụ

–  Làm rõ cơ sở lý luận, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

– Khảo sát thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận từ khi luật đất đai mới có hiệu lực (2014 – 2019)

– Đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời gian tới.

3. Đối tương, phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.

– Phạm vi thời gian: Từ ngày Luật Đất đai 2013 có hiệu lực.

– Giới hạn nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đất ở), quyền sở hữu nhà ở.

4. Phương pháp nghiên cứu

Về phương pháp luận: Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả sử dụng các phương pháp xử lý số liệu chủ yếu như: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử, phương pháp đọc tài liệu; phương pháp sơ đồ hóa số liệu.

Xem thêm: 

5. Bố cục của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
  • Chương 2: Thực trạng của công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận
  • Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trên địa bàn huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀM THUẬN BẮC

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài:CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HÀM THUẬN BẮC các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP NGÀNH LUẬT: KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.       Tính cấp thiết của đề tài báo cáo thưc tập:

Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí rất quan trong trong hệ thống chính quyền bốn cấp của nước ta hiện nay, vấn đề này đtrợc Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi tại điều 118. Chính quyền cấp xã có chức năng: Bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, quyết định của chính quyền Nhà nước cấp trên; quyết định và đảm bảo thực hiện các chủ trương biện pháp để phát huy mọi khả năng và tiềm năng của các địa phương về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong xã và làm tròn nghĩa vụ của địa phương với Nhà nước.

Nhiệm vụ của chính quyền cấp xã được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Sự vững mạnh của chính quyền cấp xã là nền tảng cho sự vững mạnh của hệ thống chính quyền trong cả nước và ngược lại. Khâu quan trọng quyết định sự vững mạnh của hệ thống chính quyền cơ sở phải nói đến khâu cán bộ, hay nói cách khác cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là then chốt trong công tác xây dựng Đảng, trung tâm trong kiện toàn hệ thống Nhà nước.

Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, hàng ngày triển khai, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên chính quyền cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân.

Vì vậy, chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Về vị trí của cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, “là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Như vậy, cán bộ có vị trí chủ thể của sự nghiệp cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo. Vị trí lãnh đạo, vị trí chủ thể của cán bộ là do Đảng, Nhà nước, đoàn thể phân công, và quyền lực của cán bộ cũng như nhiệm vụ của người cán bộ là do nhân dân giao cho.

Về vai trò của cán bộ, Hồ Chí Minh khẳng định rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh tuý nhất của xã hội, có vị trí vừa tiên phong vừa là ưung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta.

Với vị trí và sức ảnh hưởng to lớn đó, việc hoàn thiện đội ngũ cán bộ cấp cơ sở luôn là nội dung được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề xử lý kỷ luật đối với cán bộ cấp xã thời gian qua ở nước ta còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác phát hiện và xử lý vi phạm kỷ luật của cán bộ cấp xã, ảnh hưởng đến việc bảo đảm trật tự kỷ cương và mục tiêu xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa.

2.        Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích

Đề tài có mục đích là trên cơ sở lý luận về Kỷ luật cán bộ cấp xã – lý luận và thực tiễn”, đề tài xuất phát từ các giải pháp kỷ luật cán bộ cấp xã  cấp xã, nhằm làm trong sạch đội ngũ công chức cấp xã hiện nay.

  • Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên đề tài có những nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu, làm rõ có cơ sở lý luận về đội ngũ công chức cấp xã;
  • Phân tích, đánh giá thành tựu và chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế, nghiên cứu về kỷ luật cán bộ cấp xã cấp xã;
  • Đề xuất các giải pháp việc kỷ luật cán bộ cấp xã cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã hiện nay.

3.       Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công chức cấp xã theo Luật Cán bộ, công chức 2008 và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ có liên quan.
  • Khảo sát tìm hiểu thực trạng về chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay, những bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật đối với công tác xử ký kỷ luật cán bộ cấp xã tại thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An;
  • Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy trong quy trình xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã tại thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

4.       Cơ sử lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng.

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê, so sánh.

5.        Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

Tác giả chọn đề tài “Xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã: thực trạng và giải pháp hoàn thiện” nhằm làm rõ vấn đề lý luận pháp lý cũng như thực trạng về công tác xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã hiện nay và mong muốn đề xuất những giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện công tác xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã nói riêng và góp phần hoàn thiện đội ngũ cán bộ cấp cơ sở nói chung.

6.        Kết cấu đề tài báo cáo thực tập:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, đề tài có 3 chương:

  • Chương 1: Khái quát về kỷ luật cán bộ cấp xã, trong đó đề cập đến khái niệm, đặc điểm của cán bộ cấp xã; quyền hạn và nghĩa vụ, những điểm cần lưu ý trong quá trình truy cứu kỷ luật, đặc biệt là đề cập làm rõ quá trình phát triển các qui định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ cấp xã.
  • Chương 2: Phân tích các qui định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã, trình tự thủ tục, quy trình, chủ thể, đối tượng… từ đó làm rõ những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện nhằm làm sáng tỏ những đề xuất giải pháp trong phần chương 3.
  • Chương 3: Đánh giá thực trạng về chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay, những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ cấp xã và đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới.

Xem thêm: 

Cách làm bài báo cáo thưc tập: KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN THỰC TIỄN

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: KỶ LUẬT CÁN BỘ CẤP XÃ – LÝ LUẬN THỰC TIỄN các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

112 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Hay Dành Cho Sinh Viên Ngành Luật

112 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Hay Dành Cho Sinh Viên Ngành Luật

1.    LUẬT THƯƠNG MẠI

1.    Thực tiễn hoạt động tư vấn thành lập doanh nghiệp tại công ty luật hoặc văn phòng luật sư nơi tác giả thực tập .

2.    Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp tại doanh nghiệp nơi tác giả thực tập.

3.    Thực tiễn thi hành pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần tại tại doanh nghiệp nơi tác giả thực tập.

4.    Thực tiễn thi hành pháp luật về thành lập doanh nghiệp tại địa phương nơi tác giả thực tập

5.    Thực tiễn thi hành về điều kiện kinh doanh tại doanh nghiệp nơi tác giả thực tập.

6.    Những thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp nơi tác giả thực tậpcông tac.

7.    Thực tiễn thực hiện cải cách hành chính trong thủ tục thành lập doanh nghiệp tại địa phương nơi tác giả thực tập

8.    Thực tiễn thi hành pháp luật về thủ tục cấp Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư nơi tác giả thực tập

9.    Thực tiễn thi hành thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nơi tác giả thực tập

10.     Thực tiễn hoạt động tư vấn hợp đồng thương mại tại công ty luật hoặc văn phòng luật sư nơi tác giả thực tập.

11.     Thực tiễn triển khai đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại doanh nghiệp nơi tác giả thực tập và bài học kinh nghiệm.

12.     Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam.

13.     Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về khuyến khích, ưu đãi đầu tư tại địa phương nơi tác giả thực tập

14.     Thực tiễn hoạt động tư vấn giải quyết tranh chấp thương mại tại công ty luật hoặc văn phòng luật sư nơi tác giả thực tập .

15.     Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam.

16.     Thực tiễn thực hiện Luật trọng tài thương mại (2010) tại Trung tâm trọng tài nơi tác giả thực tập

17.     Thực tiễn thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại Trung tâm trọng tài nơi tác giả thực tập.

18.     Thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nơi tác giả thực tập

19.     Thực tiễn xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại Tòa án nơi tác giả thực tập

20.     Thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về sự hỗ trợ của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với hoạt động của Trọng tài thương mại.

2.    LUẬT MÔI TRƯỜNG

1.    Thực tế áp dụng pháp luật về thông tin môi trường.

2.    Thực tế áp dụng pháp luật bảo vệ môi trường trong sản xuất kinh doanh hoá chất.

3.    Thực tế áp dụng pháp luật về kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông.

4.    Thực tế áp dụng pháp luật về vai trò, quyền và nghĩa vụ của tổ chức chính trị – xã hội, xã hội nghề nghiệp trong bảo vệ môi trường.

5.    Thực tế áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí

6.    Thực tế áp dụng pháp luật về thuế bảo vệ môi trường.

7.    Thực tế áp dụng pháp luật về Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

8.    Thực tế áp dụng pháp luật về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.

9.    Thực tế áp dụng pháp luật về Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

10.     Thực tế áp dụng pháp luật về đánh giá môi trường

11.     Thực tế áp dụng pháp luật về quản lý chất thải thông thường

12.     Thực tế áp dụng pháp luật về quản lý chất thải nguy hại

13.     Thực tế áp dụng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường.

14.     Thực tế áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu

15.     Thực tế áp dụng pháp luât về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất khẩu

16.      Tìm hiểu vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường bằng pháp luật.

17.      Thực tế áp dụng pháp luật về bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên.

18.     Thực tế áp dụng pháp luật về bảo vệ động, thực vật quý, hiếm ưu tiên bảo vệ

19.     Thực tế áp dụng pháp luật về kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại.

20.     Thực tế áp dụng pháp luật về an toàn sinh học.

21.     Thực tế áp dụng pháp luật về cưỡng chế, tuân thủ, giám sát đối với sinh vật biến đổi gen.

22.     Thực tế áp dụng pháp luật về dịch vụ hệ sinh thái và chi trả dịch vụ hệ sinh thái.

23.     Thực tế giải quyết tranh chấp môi trường tại địa phương

24.     Thực tế xử lý vi phạm pháp luật môi trường tại địa phương

25.     Thực tế áp dụng pháp luật môi trường tại địa phương (sinh viên có thể chọn địa phương và lĩnh vực pháp luật môi trường cụ thể khác với những nội dung đã đề cập ở phần trên).

3.    LUẬT ĐẤT ĐAI

1. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập lớn nhất trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơi địa phương học viên công tác? Học viên chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục?

2. Tại sao Luật Đất đai 2013 lại quy định căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở “Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của UBND cấp huyện đã được phê duyệt”? Chỉ rõ quy định như vậy giải quyết được tồn tại, vướng mắc gì trong thực tiễn thời gian qua? Liên hệ với địa phương nơi học viên công tác?

3. Hãy chỉ ra những vấn đề nổi cộm nhất hiện nay trong việc tiếp cận đất đai của các doanh nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư nơi địa phương học viên công tác? Chỉ ra nguyên nhân của những nổi cộm đó và đề xuất giải pháp khắc phục?

4. Vấn đề minh bạch, công khai và dân chủ trong việc lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nơi địa phương học viên sinh sống và công tác được biểu hiện như thế nào? Chỉ rõ những vấn đề nổi cộm và đề xuất giải pháp khắc phục?

5. Vấn đề chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp nơi địa phương học viên sinh sống và công tác diễn ra như thế nào? Có gì nổi cộm? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục?

6. Anh hay chị nhận xét gì về giá đất do nhà nước quy định và giá đất thị trường trong trường hợp thu các nghĩa vụ tài chính từ người sử dụng đất cho ngân sách nhà nước và trong việc áp giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất? Hãy nêu các ví dụ cụ thể.

7. Thực tiễn công tác đăng ký đất đai và quản lý hồ sơ địa chính nơi học viên công tác? Đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, vướng mắc?

8. Thực tiễn công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nơi học viên công tác? Đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, vướng mắc?

9. Hãy phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về chính sách bồi thường  khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Anh (Chị) có nhận xét, đánh giá gì về việc thực thi chính sách bồi thường về đất nông nghiệp trong thời gian qua tại địa phương nơi Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác? Lý giải vì sao trong thời gian qua người có đất nông nghiệp bị thu hồi thường khiếu nại về vấn đề bồi thường?

10. Hãy phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về chính sách tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở. Anh (Chị) có nhận xét, đánh giá gì về việc thực thi chính sách tái định cư trong thời gian qua nơi địa phương Anh (Chị) sinh sống và công tác? Lý giải vì sao trong thời gian qua người có đất bị thu hồi thường khiếu nại về vấn đề tái định cư?

11. Hãy chỉ rõ những dạng tố cáo thường xảy ra trong lĩnh vực thu hồi đất nơi địa phương Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác? Theo Anh (Chị), đâu là nguyên nhân và cần có biện pháp hữu hiệu gì để hạn chế tình trạng đó?

12. Thực trạng hiện nay người dân thường bất đồng và khiếu nại với các cơ quan chức năng về tình trạng thu hồi đất còn nhiều khuất tất, ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Anh (Chị) hãy chỉ rõ những biểu hiện của những dạng sai phạm trong thu hồi đất mà người dân khiếu nại và cho biết những nhận định, đánh giá của mình về vấn đề đó?

13. Anh (Chị) hãy chỉ rõ những tồn tại, bất cập và vướng mắc nổi cộm hiện nay trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất? Giải thích rõ nguyên nhân của những tồn tại, bất cập, vướng mắc đó và cho một số đề xuất khắc phục? Anh (Chị) có nhận xét, đánh giá gì về việc thực thi chính sách bồi thường trong thời gian qua tại địa phương nơi Anh (Chị) đang học tập và công tác?

14. Hãy phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về chính sách tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở. Anh (Chị) có nhận xét, đánh giá gì về việc thực thi chính sách tái định cư trong thời gian qua, Luật Đất đai 2013 ra đời có gì mới nhằm hạn chế, khắc phục những tồn tại, bất cập về chính sách tái định cư? Anh (Chị) có nhận xét, đánh giá gì về việc thực thi chính sách tái định cư trong thời gian qua tại địa phương nơi Anh (Chị) đang học tập và công tác?

15. Phân tích các quy định hiện hành về vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất? Anh (Chị) có nhận xét, đánh giá gì về việc thực thi chính sách hỗ trợ trong thời gian qua tại địa phương nơi Anh (Chị) đang học tập và công tác?

16. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập về giải quyết tranh chấp đất đai trong thực tế thời gian qua nơi địa phương học viên sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khắc phục.

17. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập và nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp về các hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất nơi học viên sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề ra các giải pháp khắc phục.

18. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập và những vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất nơi học viên sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục.

19. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập và những vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất nơi học viên sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục.

20. Theo quan điểm của Anh (Chị), cần có biện pháp gì hữu hiệu để hạn chế tình trạng tồn đọng các án kiện về đất đai và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai trong thời gian tới tại địa phương Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác?

21. Hãy chỉ ra những dạng tố cáo phổ biến và điển hình trong lĩnh vực đất đai xảy ra thời gian qua nơi Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục.

22. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập và hạn chế trong quá trình giải quyết các khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại địa phương nơi Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khác phục.

23. Hãy chỉ ra những tồn tại, bất cập và hạn chế trong quá trình giải quyết các tố  cáo trong lĩnh vực đất đai tại địa phương nơi Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác? Chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất những giải pháp khác phục.

24. Đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết khiếu nại liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất nơi Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác? Nêu giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết khiếu nại liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất?

25. Theo quan điểm của Anh (Chị), cần có biện pháp gì hữu hiệu để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai thời gian tới? Liên hệ thực tế tại địa phương nơi Anh (Chị) sinh sống hoặc công tác?

4.    LUẬT CẠNH TRANH VÀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

1. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh.

2. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

3. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

4. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi tập trung kinh tế

5. Thực trạng hưởng miễn trừ đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm

6. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn

7. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh

8. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi ép buộc trong kinh doanh

9. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi gièm pha doanh nghiệp khác

10. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác

11. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

12. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh

13. Thực trạng thực thi pháp luật đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính

14. Tìm hiểu thực tiễn hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

15. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng

16. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng

17. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm trong việc thực hiện hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

18. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch cho người tiêu dùng

19. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm bảo hành hàng hoá, linh kiện, phụ kiện

20. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm thu hồi hàng hoá có khuyết tật

21. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hoá có khuyết tật gây ra

22. Thực trạng giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng thông qua Toà án

23. Thực trạng giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng thông qua Cục quản lý cạnh tranh

24. Thực trạng giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng thông qua Uỷ ban nhân dân

25. Thực trạng giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng thông qua Hội bảo vệ người tiêu dùng

26. Thực trạng giải quyết tranh chấp giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng thông qua Trọng tài

5.    LUẬT LAO ĐỘNG

1.     Tranh chấp và giải quyết tranh chấp laođộng tại tòa án ( tỉnh hoặc huyện nơi thực tập)

2.     Tranh chấp và giải quyết tranh chấp lao động tại …..

3.     Thực tiễn thi hành pháp luật về giao kết HĐLĐ tại các doanh nghiệp ở địa phương (tỉnh hoặc huyện nơi thực tập)

4.     Thực tiễn thi hành pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại các doanh nghiệp ở địa phương (tỉnh hoặc huyện nơi thực tập)

5.     Pháp luật về nội quy lao động và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp ở…

6.     Pháp luật về kỷ luật lao động và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp ở…

7.     Pháp luật về kỷ luật sa thải và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp  ở…

8.     Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp ở….

9.     Trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ bị tai nạn lao động và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp

10. Thực tiễn thi hành pháp luật về tiền lương trong các doanh nghiệp ở tỉnh hoặc huyện…..

11.  Đình công và giải quyết đình công ở…

12.  Bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn thực hiện ở tỉnh hoặc huyện….

13.  Bảo hiểm xã hội tự nguyện và thực tiễn thực hiện ở tỉnh hoặc huyện….

14.  Bảo hiểm y tế và thực tiễn thực hiện ở tỉnh hoặc huyện….

15.  Bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện ở tỉnh hoặc huyện….

Xem thêm: Khái niệm và đặc điểm pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

Lưu ý: Các đề tài trên chỉ mang tính gợi ý. Học viên có thể tự nghĩ đề tài về các vấn đề nằm trong chương trình của luật lao động và gắn với địa phương của mình

112 ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP HAY DÀNH CHO SINH VIÊN NGÀNH LUẬT

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: 112 ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP HAY DÀNH CHO SINH VIÊN NGÀNH LUẬT các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Khái niệm và đặc điểm pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

1.1. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai

         1.1.1.Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai

Khi xảy ra tranh chấp đất đai, các bên tranh chấp khó có thể thỏa thuận với nhau để đưa ra giải pháp hữu hiệu trong việc thực hiện quyền sử dụng đất, những mâu thuẫn sẽ ngày càng gay gắt hơn nếu không được các bên tranh chấp cùng phối hợp để giải quyết. Khi đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện chức năng của mình trong việc chỉ rõ quyền quản lý và sử dụng đối với các bên.

Giải quyết tranh chấp đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật (theo tài liệu tập huấn chuyên đề hòa giải giải quyết tranh chấp, khiếu nại về lĩnh vực đất đai- phòng tư pháp thị xã Tân Uyên tháng 11/2010).

       1.1.2.Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai

Đối tượng của giải quyết tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình sử dụng đất.

Các chủ thể giải quyết tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý và sử dụng đất không có quyền sở hữu đối với đất đai.

Tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước.

Tranh chấp đất đai làm cho những quy định của pháp luật đất đai và chính sách của Nhà nước không được thực hiện một cách triệt để.

1.2. Vai trò giải quyết tranh chấp đất đai

Giải quyết tranh chấp về đất đai có hiệu quả phù hợp pháp luật đem lại lòng tin của nhân dân vào pháp luật. Thông qua đó tuyên truyền giáo dục chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân trong việc chấp hành pháp luật đất đai. Từ đó phát huy tinh thần đoàn kết tương trợ trong cộng đồng dân cư, giữ gìn và phát huy truyền thống, đạo lý của người Việt Nam.

Giải quyết tranh chấp về đất đai kịp thời, công minh sẽ làm giảm tình hình  tranh chấp đất đai, tạo sự ổn định xã hội, phát triển sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Giải quyết tốt tranh chấp về đất đai là một nhân tố quan trọng, quyết định hiệu quả của quản lý nhà nước về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai là một nội dung quan trọng trong nội dung quản lý nhà nước về đất đai. Vì thế giải quyết tốt tranh chấp về đất đai tạo điều kiện cho hoạt động quản lý nhà nước về  đất đai đạt hiệu quả cao.Giải quyết hiệu quả tranh chấp về đất đai đặc biệt đối với các khiếu kiện tập thể đông người, lâu ngày còn có ý nghĩa ngăn ngừa tình huống phát sinh “điểm nóng” chính trị xã hội – hiện tượng vốn rất nhạy cảm hiện nay.

1.3. Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai là một bộ phận quan trọng của pháp luật đất đai nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung. Hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, các nguyên tắc và căn cứ giải quyết tranh chấp đất đai… Hệ thống pháp luật này được xây dựng và phát triển dựa trên nền tảng là cơ sở kinh tế của xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động và phát triển không ngừng đòi hỏi pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai cũng phải thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, nhằm phúc đáp các yêu cầu của quản lý và sử dụng đất đai của xã hội. Do vậy, việc nghiên cứu nhằm chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai, để trên cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm không ngừng hoàn thiện chế định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Theo quy định tại các Điều 202 và 203 của Luật Đất đai, khi xảy ra tranh chấp đất đai nhất thiết phải qua hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) nơi có đất tranh chấp. Chỉ sau khi UBND cấp xã đã tiến hành hoà giải mà một hoặc các bên đương sự không nhất trí mới được phép khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết (nếu tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án). Triển khai thi hành Luật Đất đai, ngày 22.7.2004 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 116/2004/KHXX hướng dẫn: kể từ ngày 1.7.2003, Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí và khởi kiện đến Toà án. Trong trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện mà tranh chấp đó chưa qua hoà giải tại UBND cấp xã, thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự. Với quy định này, thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai trong hơn hai năm qua đã phát sinh những vướng mắc chưa được tháo gỡ.

Theo quy định về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thẩm tra, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất, Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải, Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

Khi có kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản; ghi ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại Khoản 5 Điều 202 của Luật Đất đai.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Thực tế, có trường hợp sau khi nhận được đơn yêu cầu của đương sự, để tiến hành hòa giải, UBND cấp xã đã triệu tập nhiều lần nhưng người bị kiện cố tình trốn tránh không đến, nên không thể tiến hành hòa giải được. Trong trường hợp này, có nơi UBND cấp xã vẫn tiếp tục triệu tập người bị kiện để tổ chức hòa giải bằng được, cho dù vi phạm thời hạn hòa giải (trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn). Nhưng cũng có nơi lại lập biên bản ghi nhận về việc không thể tiến hành hòa giải được để giao cho đương sự nộp đơn khởi kiện ra Tòa án. Đến giai đoạn khởi kiện, khi người khởi kiện nộp đơn đến Tòa án, có Tòa án chấp nhận biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do UBND cấp xã lập để thụ lý đơn khởi kiện của đương sự, nhưng cũng không ít Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện vì căn cứ quy định tại điểm Đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự, cho rằng tranh chấp chưa được hòa giải tại cấp xã, chưa đủ điều kiện khởi kiện. Trong thực tế, thông thường người bị kiện luôn tìm mọi cách để đối phó, nhằm lẩn tránh việc giải quyết tranh chấp, trong khi đó pháp luật không có quy định về việc áp giải người bị kiện đến để tham gia hòa giải. Do đó, nếu người bị kiện cố tình trốn tránh đến cùng việc tham gia hòa giải thì tranh chấp sẽ không bao giờ được giải quyết. Trường hợp này, việc các Tòa án đòi hỏi nhất thiết phải có biên bản hòa giải tại UBND cấp xã mới thụ lý vụ án là quá máy móc. Pháp luật về giải quyết khiếu kiện hành chính, giải quyết tranh chấp lao động đều có quy định: trong trường hợp đơn khiếu nại không được giải quyết, hoặc tranh chấp lao động không được hòa giải tại cơ sở trong thời hạn pháp luật quy định thì người khiếu nại, các bên tranh chấp có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu giải quyết. Ngay trong Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định, trường hợp bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được để làm cơ sở đưa vụ án ra xét xử, không nhất thiết phải tiến hành hòa giải. Vì vậy, không nên vận dụng cứng nhắc, không nhất thiết phải có biên bản hoà giải mới thụ lý đơn khởi kiện. Nếu người khởi kiện cung cấp được biên bản của UBND cấp xã về việc không tiến hành hòa giải được vì bên bị kiện cố tình vắng mặt và các tài liệu về việc UBND cấp xã đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, mà người bị kiện vắng mặt thì Tòa án vẫn thụ lý vụ án để giải quyết.

Một vấn đề nữa là theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai thì UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai. Trong thực tế, đã có những tranh chấp đất đai mà UBND cấp xã đã tiến hành hoà giải nhưng thành phần hòa giải không có cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoặc không có cán bộ của các tổ chức thành viên của Mặt trận, nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, thậm chí là đã thụ lý vụ án vẫn cứ yêu cầu UBND cấp xã phải hòa giải lại cho đúng thành phần, vì sợ rằng cấp phúc thẩm sẽ huỷ án sơ thẩm.

Trước yêu cầu phải hoà giải lại, có nơi UBND cấp xã chấp nhận tổ chức hòa giải, nhưng nhiều nơi, UBND cấp xã từ chối việc hòa giải lại vì cho rằng tranh chấp đã được hòa giải. Cứ như thế, việc tranh chấp bị “treo” mãi. Thiết nghĩ, trong điều kiện sự am hiểu và nắm bắt pháp luật của cán bộ cấp xã còn hạn chế, pháp luật lại quy định thời hạn 30 ngày phải tiến hành việc hòa giải, nên việc có đủ các thành viên của Mặt trận tham gia hòa giải là rất khó. Do đó, tòa án không nên cứ nhất thiết đòi hỏi mọi thủ tục hòa giải ở cấp xã, để rồi đẩy các tranh chấp đất đai vào vòng luẩn quẩn, trong khi tranh chấp đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời.

Xem thêm: Hoàn Thiện Cơ Chế Pháp Lý Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai

Cách làm bài báo cáo thực tập: Khái niệm và đặc điểm pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Khái niệm và đặc điểm pháp luật về gaiir quyết tranh chấp đất đai các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Hoàn Thiện Cơ Chế Pháp Lý Về Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai

ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP  ĐẤT ĐAI

Đất đai là tài nguyên đặc biệt. Trong nền kinh tế thị trường, người ta coi đất đai là hàng hoá đặc biệt. Câu nói “tấc đất, tấc vàng” nói lên sự quý giá ở tầm mức cao nhất của đất đai thực ra cũng không đủ. Nếu nói dưới góc độ giá trị lịch sử – xã hội : “mỗi tấc đất đều nhuốm máu cha ông”; đất đai là “giang sơn gấm vóc” thì sự thiêng liêng, quý giá ấy khó lấy thước đo nào mà định giá.

Trong quá trình vận động của xã hội, nhất là trong nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề bức xúc xảy ra hàng ngày. Trong đó đứng đầu là vấn đề tranh chấp đất đai. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp là  người dân không có thói quen cắm cột mốc, quá trình sử dụng bị sai lệch hoặc chuyển nhượng, tặng cho không làm đầy đủ các thủ tục cần thiết, hợp lệ.

Hệ thống hồ sơ địa chính, đặc biệt là bản đồ địa chính chính quy chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thống nhất, độ chính xác và tin cậy không cao nên gây ra những khó khăn rất lớn cho các cấp chính quyền địa phương trong thực thi thẩm quyền quản lý theo quy định của pháp luật, đặc biệt là ở cấp cơ sở. Nhiều vấn đề lịch sử để lại chưa được giải quyết dứt điểm và kịp thời như việc xác định nguồn gốc, mốc giới, thời hạn, mục đích, quy chủ sử dụng đất đã nảy sinh nhiều bức xúc. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các cơ quan chức năng gặp không ít khó khăn khi tìm chứng cứ để xác định tính khách quan của vụ việc, thậm chí có nhiều trường hợp phải suy đoán theo lập luận của các bên. Từ đó, xảy ra nhiều tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài, thưa gửi nhiều nơi và qua nhiều cấp giải quyết mà các bên vẫn khiếu nại.

Giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là một trong những nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai. Thực hiện tốt nội dung này không những góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, mà còn góp phần đáng kể trong việc giữ gìn ổn định sản xuất, đời sống, phát triển kinh tế, hàn gắn tình đoàn kết trong nội bộ nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự và ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng có thể xảy ra, đảm bảo trật tự xã hội cũng như củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong những năm qua, công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại trên lĩnh vực đất đai đã có nhiều chuyển biến tích cực, giải quyết được một khối lượng lớn vụ việc, góp phần ổn định tình hình chính trị, giữ vững an ninh, trật tự xã hội. Tuy nhiên, tình hình tranh chấp, khiếu nại có liên quan đến đất đai hiện nay vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đây là một vấn đề nhức nhối đang được Đảng và Nhà nước, xã hội rất quan tâm.

Việc nhận thức và vận dụng pháp luật không đúng, không thống nhất, thậm chí sai phạm dẫn đến khiếu nại, tố cáo nhiều, công tác quản lý nhà nước các cấp phải tập trung quá nhiều lực lượng, kinh phí để giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, gây tốn kém, mất thời gian. Có sự việc nhỏ chỉ cần giải quyết ở cấp cơ sở là xong, nhưng thực tế việc hiểu biết và vận dụng pháp luật của một số cán bộ còn chưa đúng, chưa phù hợp đã làm cho sự việc phức tạp thêm, kéo dài thời gian, tạo ra nhiều dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân.

Với nhận thức tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp về đất đai trong quản lý nhà nước về đất đai, niên luận đi vào đề tài: “ hoàn thiện cơ chế pháp lý về giải quyết tranh chấp  đất đai “.

Vì thời gian và kiến thức còn hạn chế, niên luận không tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót. Rất mong được sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo và các học viên. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp tận tình đó, tạo điều kiện cho tôi nhận thức được đầy đủ hơn và hoàn thành tốt niên luận này.

  1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài báo cáo thực tập:

Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là những năm gần đây tình hình tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, nhất là ở những vùng  đô thị hóa . Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến trong thực tế là: tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất; tranh chấp do lấn, chiếm đất; tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; tranh chấp đất đai trong các vụ án ly hôn… Có thể liệt kê rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai như: Việc quản lý đất đai còn nhiều thiếu sót, sơ hở; việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) tiến hành chậm; việc lấn chiếm đất đai diễn ra ngày càng phổ biến nhưng không được ngăn chặn và xử lý kịp thời; đất đai từ chỗ chưa được thừa nhận có giá trị nay trở thành tài sản có giá trị cao, thậm chí ở nhiều nơi, nhiều lúc giá đất tăng đột biến…

Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằm ổn định tình hình chính trị, xã hội. Hệ thống các văn bản pháp luật đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện, trong đó quy định việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân (UBND) và Tòa án nhân dân (TAND) (các Điều 21, 22 Luật Đất đai năm 1987; Điều 38 của Luật Đất đai năm 1993; Điều 136 Luật Đất đai năm 2003). Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai mới chỉ “dừng lại” ở mức độ chung chung, nên trên thực tế dẫn đến sự chồng chéo, đùn đẩy giữa UBND và TAND. Khắc phục những nhược điểm này, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tương đối cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết các tranh chấp đất đai có hiệu quả hơn.

Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay đổi tương
thích với từng giai đoạn phát triển của cách mạng, song bên cạnh đó còn nhiều quy định không nhất quán. Hơn nữa, việc giải thích, hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa đầy đủ và kịp thời. Do đó, tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính và TAND trong những năm qua vừa chậm trễ, vừa không thống nhất. Có nhiều vụ phải xử đi, xử lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, phát sinh khiếu kiện kéo dài và làm giảm lòng tin của người dân đối với đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có thể khẳng định rằng, việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là loại việc khó khăn, phức tạp nhất và là khâu yếu nhất trong công tác giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung. Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; thực trạng tranh chấp đất đai và việc giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan có thẩm quyền  trong những năm gần đây, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai và xác lập cơ chế giải quyết các tranh chấp đất đai thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề ” hoàn thiện cơ chế pháp lý về Giải quyết tranh chấp đất đai” ở thị xã Tân Uyên-Bình Dương làm đề tài  niên luận môn luật học của mình.

  1. Mục đích và nghĩa vụ nghiên cứu

– Mục đích nghiên cứu của tiểu luận là phân tích, đánh giá thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai và cơ chế áp dụng pháp luật để giải quyết có hiệu quả hơn các tranh chấp đất đai.

– Để đạt được mục đích này, tiểu luận có nhiệm vụ nghiên cứu những quy định của pháp luật đất đai liên quan đến việc giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai ở thị xã Tân Uyên. Trên cơ sở đó chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật đất đai hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật đất đai, nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp đất đai, phúc đáp các đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

  1. Phương pháp nghiên cứu

– Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết niên luận  sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, trao đổi chuyên gia.

  1. Ý nghĩa của các kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng ở nước ta.

  1. Kết cấu của đề tài báo cáo thực tập:

Ngoài các phần Mở đầu và phần kết  niên luận có 2 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai
  • Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai tại thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai.

Mục lục                                                                                                                         Trang

Xem thêm: KẾ HOẠCH THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH KÊ TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA VŨNG TÀU

PHẦN MỞ ĐẦU                                                                                                             01

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp đất

đai                                                                                                                                     09

1.1 Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai                                   09

  •             1.1.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai                                            09
  •             1.1.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp đất đai                                              09

1.2. Vai trò giải quyết tranh chấp đất đai                                                          09

1.3. Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai                               10

Chương 2: Thực trạng  giải quyết tranh chấp đất đai tại thi xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyếttranh chấp đất đai.                                     13

2.1. Vị trí địa lý                                                                                                        13

  •             2.1.1. Thực trạng giải quyết tranh chấp  đất đai  tại  địa phương thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương.                                                                              13
  •             2.1.2. Kết quả đạt được                                                                                     15
  •             2.1.3. Những hạn chế                                                                                         15
  •             2.1.4. Nguyên Nhân                                                                                           17

2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai                                                                                                                    19

  •             2.2. 1. Sự cần thiết phải điều chỉnh các tranh chấp đất đai bằng pháp luật                                                                                                                          19
  •             2.2.2 Giải pháp                                                                                                   26

PHẦN KẾT                                                                                                                     27

Danh mục tài liệu tham khảo                                                                                      28

 Cách làm bài báo cáo thực tập:  HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Hoàn thiện cơ chế pháp lý về giải quyết tranh chấp đất đai các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2021

Đề tài báo cáo thực tập: HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2021

1. Lý do chọn đề tài báo cáo thực tập:

Tranh chấp đất đai là sự xung đột, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các người sử dụng đất với nhau khi tham gia vào quan hệ pháp Luật đất đai. Tranh chấp đất đai ở nước ta xuất hiện trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của các quan hệ pháp luật đất đai. Trước Hiến pháp 1980, khi Nhà nước còn duy trì ba hình thức sở hữu đất đai là: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân thì có thể có tranh chấp về quyền sở hữu, về quyền – nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai[1]. Bước sang thời kỳ đổi mới hội nhập với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với những quan hệ kinh tế – xã hội khác, các quan hệ pháp luật đất đai cũng phát triển hết sức đa dạng, phức tạp, đòi hỏi pháp luật phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp[2]. Sự thay đổi về quan điểm pháp luật dẫn đến sự xuất hiện hợp pháp của các giao dịch dân sự về đất đai như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn liên doanh bằng giá trị sử dụng đất…cũng từ đó mà đối tượng của tranh chấp đất đai đã có sự thay đổi, không chỉ là quyền quản lý, sử dụng đất đai mà còn tranh chấp trong quá trình xác lập và thực hiện các giao dịch về đất đai. Trong thực tế hiện nay thì việc yêu cầu về giải quyết các TCĐĐ trong thực tế đã và đang có những sự thay đổi bằng việc bổ sung các quy định pháp lý nhằm tạo nền tảng cơ bản cho quá trình hoàn thiện các quy định về QLNN về đất đai trong thực tế.

Với yêu cầu quan trọng của hoạt động giải quyết các tranh chất về đât đi trong thực tế thì yêu cầu về hòa giải tại cơ sở là điều vô cùng cần thiết. Thực tế thời gian qua cho thấy, tranh chấp đất đai là một trong những tranh chấp xảy ra phổ biến, rất phức tạp và hầu hết phải đưa ra giải quyết bằng con đường Tòa án. Rất khó để hạn chế tranh chấp, khi tranh chấp xảy ra rồi thì làm thế nào để hóa giải tranh chấp đó là vấn đề được nhiều cấp chính quyền quan tâm. Hòa giải là một trong những biện pháp hữu hiệu để giải quyết tranh chấp đất đai.

Hòa giải tranh chấp đất đai bắt đầu xuất hiện từ Luật đất đai 1993 (Điều 38) ở mức độ sơ khai, quy định chưa cụ thể. Đến Luật đất đai 2003, chế định về hòa giải tranh chấp đất đai tại cơ sở được quy định rõ ràng, cụ thể hơn, tạo điều kiện để chính quyền cơ sở thực hiện việc hòa giải tranh chấp đất đai. Sau 10 năm thi hành, trải qua quá trình phát triển không ngừng của xã hội, các tranh chấp về đất đai xuất hiện ngày càng nhiều và mức độ phức tạp hơn. Trong bối cảnh đó, Luật đất đai 2003 bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắt, không còn phù hợp. Ngày 29 tháng 11 năm 2013, Quốc hội ban hành Luật đất đai 2013 với những quy định mới, góp phần tháo gỡ, giải quyết những bất cập, vướng mắc của Luật Đất đai 2003, phù hợp với tình hình thực tế về quản lý, sử dụng đất đai trên cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, giải quyết tranh chấp đất đai, cụ thể là hòa giải tranh chấp đất đai theo Luật đất đai 2013 phát sinh thêm những vấn đề vướng mặt mới, tồn tại bất cập chưa được giải quyết triệt để. Việc ban hành các quy định pháp luật về hòa giải cơ sở là nền tảng pháp lý quan trọng để thực hiện công tác về HGTCĐĐ trong thực tế ở nước ta đạt được những kết quả cao.

Đối với tình hình nghiên cứu về đề tài hòa giải tranh chấp đất đai đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình sau:

–  Tòa án nhân dân tối cao, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ ( 2002), Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân.

– Thanh Tú ( 2002), Vướng mắc khi áp dụng chế định hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7, Hà Nội.

– Trần Văn Quảng (2012), Một số vấn đề về chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về hòa giải.

–  Trần Văn Quảng ( 2008), Các phương thức thương lượng, hòa giải, trung gian ở Việt Nam của, hội thảo “Giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng tư pháp – thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế”, Bộ Tư pháp và Tổ chức phát triển quốc tế Canada ( Dự án hỗ trợ cải cách pháp luật) đồng tổ chức ngày 23-24/8/2008

– Trần Văn Quảng (2004), “Chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam – Cơ sở lý luận và thực tiễn”, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

– Trần Văn Quảng ( 1999), Hòa giải – một phương thức phát huy dân chủ ở cơ sở, Thông tin khoa học pháp lý số 2, Hà Nội

– Nguyễn Thị Minh (2012), Hoà giải trong thương mại, thực trạng hoạt động và xu hướng phát triển ở Việt Nam, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về hòa giải.

– Nguyễn Xuân Trọng, Trần Hoài Nam (2010), Vướng mắc về pháp luật liên quan đến giải pháp tranh chấp, khiếu nại về đất đai, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 16.

– Nghiên cứu Hòa giải trong tranh chấp đất đai tại Việt Nam, phân tích pháp luật hiện hành, các thực tiễn và các khuyến nghị cho cải cách – Báo cáo của Cơ quan phát triển Quốc tế Australia và Quỹ Châu Á

–  Mai Thị Tú Oanh năm (2013), Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án ở nước ta” , Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội

– Nguyễn Phương Thảo (2012), Quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về hòa giải.

– Luận án “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Hương Lan;

– Luận án “Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai bằng con đường Tòa án” của tác giả Mai Thị Tú Oanh (2013)….

Từ những nghiên cứu trên đã cho thấy rõ tầm quan trọng của hoạt động hòa giải về tranh chấp đất đai nói chung và hòa giải tại địa phương nói riêng là rất quan trọng. Vì vậy, Tác giả lựa chọn đề tàiHòa giải tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2013, thực trạng tại Phường 15 Quận Bình Thạnh và một số kiến nghị làm khóa luận tốt nghiệp chương trình Luật học hệ văn bằng hai của mình.

  1. Mục đích nghiên cứu 

    và câu hỏi nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua hoạt động nghiên cứu, tác giả đặt ra các mục tiêu nghiên cứu như sau:

– Nghiên cứu các quy định của pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai theo pháp luật hiện hành

– Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hòa giải TCĐĐ được áp dụng tại phường 15, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

– Đề xuất và đưa ra những giải pháp nhằm  tháo gỡ vướng mắc còn tồn tại.

2.2.Câu hỏi nghiên cứu

– Quy định hiện hành về hòa giải tranh chấp đất đai được ghi nhận như thế nào?

– Thực tiễn áp dụng hòa giải tranh chấp đất đai tại Phường 15, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả và hạn chế như thế nào?

– Các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giải quyết TCĐĐ tại phường 15, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh?

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai của UBND phường

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Tuy nhiên trong khuôn khổ của một bản khoá luận tốt nghiệp hệ văn bằng hai cử nhân luật, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cụ thể sau:

– Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về hòa giải tranh chấp đất đai của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

– Tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân Phường 15 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó nêu các kiến nghị góp phần bổ sung, hoàn chỉnh, khắc phục các bất cập về quy định pháp luật còn tồn tại, gây khó khăn cho công tác hòa giải tranh chấp đất đại tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn.

4. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, khoá luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

– Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin;

Bên cạnh đó, khóa luận còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:

– Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử…được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai, đặc trưng của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.

– Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá v…v., được sử dụng trong chương 2 khi tìm hiểu quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.

– Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng ở chương 3 khi xem xét, tìm hiểu về hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.

5. Kết cấu Khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của khoá luận gồm 3 chương:

  • Chương 1: Tổng quan về hòa giải tranh chấp đất đai;
  • Chương 2: Luật Đất đai năm 2013 với vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai;
  • Chương 3: Thực trạng hòa giải tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2013 tại Ủy ban nhân dân Phường 15 quận Bình Thạnh và một số kiến nghị.

[1] Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật – Bộ Tư pháp, Báo cáo tổng kết hoạt động hòa giải ở cơ sở trong thời gian thực hiện Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở,  tại Hội thảo “Nghiên cứu về công tác hòa giải cơ sở“  tại Huế tháng 1/2010

[2] Tòa án nhân dân tối cao, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ ( 2002), Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất tại tòa án nhân dân.

Xem thêm: Thực Hiện Các Quy Định Pháp Luật Về Chữ Ký Số

Cách làm bài báo cáo thực tập: HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2021

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2021 các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Thực Hiện Các Quy Định Pháp Luật Về Chữ Ký Số

Đề tài báo cáo thực tập: PHÁP LUẬT THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỮ KÝ SỐ

Chữ ký số cũng như chứng minh thư nhân dân của cá nhân, tổ chức trên không gian mạng. Vì vậy yếu tố an toàn, bảo mật là vô cùng quan trọng. Khi được cung cấp chữ ký số, các cá nhân, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn rất nhiều đặc biệt với các phần mềm kế toán, dịch vụ hóa đơn điện tử. Đẩy mạnh khuyến khích các cá nhân, đơn vị tham gia sử dụng chữ ký số sẽ góp phần tạo tạo thành một hệ sinh thái đồng bộ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Chữ ký và các hình thức thể hiện ý chí khác của các chủ thể luôn đóng vai trò quan trọng các các giao dịch. Trong giao dịch điện tử, chữ ký điện tử đóng vai trò xác thực chủ thể đã thực hiện giao dịch và xác thực sự chấp thuận của chủ thể thực hiện giao dịch đối với nội dung của giao dịch. Xuất phát từ tính chất ngày càng phổ biến của các giao dịch điện tử và vai trò đặc biệt quan trọng của chữ ký điện tử trong các giao dịch điện tử mà các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới đều đưa ra các quy định đối với chữ ký điện tử, chữ ký số (là một loại chữ ký điện tử).

Ở Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của giao dịch điện tử, Đảng và Chính phủ đã tập trung chỉ đạo nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các giao dịch điện tử. Chính sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đã bước đầu tạo được các điều kiện thuận lợi cho giao dịch điện tử phát triển tại Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý cho các giao dịch điện tử, có thể kể đến như: Luật Giao dịch điện tử năm 2005; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số… Trên bình diện quốc tế, năm 2001, Ủy ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCITRAL) đã thông qua Model Law on Electronic Signatures (2001) – Luật mẫu của UNCITRAL về chữ ký điện tử nhằm tạo ra nền tảng pháp lý cho chữ ký điện tử trên thế giới. Năm 2017, Ủy ban Pháp luật thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCITRAL) đã thông qua Model Law on Electronic Transferable Record (2017) – Luật mẫu của UNCITRAL về giao dịch hồ sơ điện tử nhằm tạo ra nền tảng pháp lý cho các giao dịch điện tử trên thế giới… Các quốc gia trên thế giới cũng ban hành các quy định pháp luật của mình về chữ ký điện tử.

Xem thêm: Nghiên Cứu Quy Định Pháp Luật Việt Nam Về Đăng Ký Kết Hôn

Cách làm bài báo cáo thực tập: PHÁP LUẬT THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỮ KÝ SỐ

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: PHÁP LUẬT THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỮ KÝ SỐ các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149