Hoàn Thiện Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng Tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TP.HCM

  1. Tên đề tài nghiên cứu

Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

  1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay với mức thu nhập của người dân đang tăng lên, tỷ lệ nợ của hộ gia đình thấp, cho vay doanh nghiệp ngày càng trở nên khó khăn hơn, dân số trẻ có thể nhanh chóng tiếp cận các thói quen tiêu dùng mới hơn, hiện đại hơn đã làm cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam bắt đầu chú trọng đến phát triển cho vay dành cho khách hàng cá nhân trong đó có cho vay tiêu dùng.

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, với vai trò là kênh tín dụng kích thích tiêu dùng, hoạt động CVTD hiện đang rất phổ biến trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Nhu cầu mua sắm, tiêu dùng hiện nay đang rất lớn, Việt Nam thực sự là một thi trường tiềm năng với dân số trẻ có nhu cầu mua sắm tiêu dùng cao. Đặc biệt là các bạn trẻ mới đi làm, chưa có thu nhập cao nhưng nhu cầu chi tiêu lại lớn nhưng không muốn phụ thuộc vào gia đình, muốn độc lập về tài chính, cũng như với chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, không còn bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã chuyển dần sang “ăn ngon, mặc đẹp” và rất nhiều nhu cầu khác cần được đáp ứng. Tâm lý của những con người hiện đại coi việc đi vay là muốn sử dụng hàng hóa trước khi có khả năng thanh toán. Vì vậy mà các NHTM luôn nhiệt tình tìm kiếm những khách hàng tiềm năng này.

Ngân hàng với trọng trách là một trung gian tài chính, là kênh dẫn vốn quan trọng của toàn bộ nền kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt việc hoàn thiện và mở rộng các hoạt động kinh doanh là hướng đi và phương châm cho các ngân hàng tồn tại và phát triển. CVTD thực sự cũng không còn là khái niệm mới mẻ ở Việt Nam nhưng cũng không được người dân quan tâm thích đáng, trong khi trên thế giới CVTD đã rất phát triển và trở thành một nguồn thu chính cho ngân hàng.

Đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM thì CVTD không còn là một lĩnh vực mới mẻ. Sau nhiều năm thực hiện CVTD, ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả to lớn. Thu nhập từ CVTD ngày càng tăng lên, càng trở thành khoản mục mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Có thể đây là mục tiêu của ngân hàng trong thời gian tới. Tuy nhiên để có thể đảm bảo khoản thu nhập từ CVTD thì ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng CVTD của mình.

Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM em thấy rằng CVTD đã đang và ngày càng được quan tâm, do vậy đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM” đã được lựa chọn để làm chuyên đề tốt nghiệp.

  1. Vấn đề nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng và mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

Tìm ra các hạn chế còn tồn đọng và nguyên nhân của hạn chế.

Đề ra một số giải pháp giúp Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM mở rộng được hoạt động CVTD.

  1. Phương pháp nghiên cứu:

4.1. Các mục tiêu cụ thể – Các câu hỏi nghiên cứu

– Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

– Đề xuất giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

4.2. Cơ sở lý luận (hoặc cơ sở khoa học) của nghiên cứu

  • Cho vay tiêu dùng bất động sản: Các ngân hàng thường cho vay bất động sản để tài trợ mua những tài sản thực – nhà cửa, khu căn hộ, trung tâm mua bán, khu văn phòng, nhà kho, đất đai và các cơ cở vật chất khác. Cho vay bất động sản là một lĩnh vực mà bản thân nó chứa đựng một sự khác biệt quan trọng so với các dạng cho vay khác của ngân hàng. Trong hoạt động của ngân hàng, cho vay bất động sản có thể là món cho vay xây dựng ngắn hạn, được thanh toán đủ trong vài tháng hoặc vài tuần, cũng có thể là món vay dài hạn, kéo dài từ 20-30 năm , dù với bất cứ kỳ hạn nào thì cho vay bất động sản vẫn là lĩnh vực ngày càng phát triển nhanh chóng.
  • Cho vay tiêu dùng thông thường: Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí,… Những khoản tín dụng thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn, do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng như:

+ Cho vay mua xe ô tô thế chấp bằng chính xe mua là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn vốn giúp khách hàng mua xe ô tô phục vụ nhu cầu đi lại, giao dịch và kinh doanh, với tài sản thế chấp bằng chính xe mua.

+ Cho vay du học: Giúp khách hàng chuẩn bị nguồn tài chính kịp thời đáp ứng nhu cầu học tập cho con em mình. Nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh dịch vụ này nhằm thu hút những gia đình có con em đi du học đến với mình thông qua việc kéo dài thời hạn vay hay ưu đãi lãi suất.

+ Cho vay trả góp sinh hoạt tiêu dùng: Là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn vốn giúp khách hàng mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, cưới hỏi,… và các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.

+ Cho vay cầm cố, thế chấp sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá: Là sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân sở hữu sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá và nhu cầu cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá để vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng.

4.3. Phạm vi nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hoạt động CVTD của ngân hàng trong những năm tới.

Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong chuyên đề thuộc giai đoạn 2017 – 2019.

  • Phương pháp thu thập số liệu:

+ Thu thập số liệu từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, tài liệu liên qua đến hoạt động tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

+Dữ liệu thu thập từ nghiên cứu qua sách, tài liệu từ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM, internet…, trao đổi trực tiếp với các anh chị phòng Tín Dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM

  • Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp kiến thức đã học kết hợp với thực tiễn tại Ngân hàng.

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN

  •  Tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng
    •  Khái niệm về hoạt động cho vay tiêu dùng

Do nắm được tâm lý giao dịch của khách hàng cá nhân như: ngại bị rủi ro khi giao dịch tiền bạc với ngân hàng, ngại phiền phức trong thủ tục giao dịch, ngại bị lộ thông tin cá nhân khi giao dịch và mặc cảm không dám giao dịch đối với những người có thu nhập thấp. Nên ngân hàng thương mại đã xây dựng các chính sách chiến lược phát triển sản phẩm tín dụng phù hợp, trong đó có loại hình dịch vụ cho vay tiêu dùng dành cho cá nhân.

Cho vay tiêu dùng là loại hình cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khách hàng. (Trích giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại-ĐH Kinh Tế TP.HCM)

Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay là những người có thu nhập không cao nhưng ổn định, chủ yếu là công nhân viên chức hưởng lương, có việc làm ổn định và số lượng khách hàng này thường rất đông. (Trích giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại-ĐH Mở TP.HCM)

Cho vay tiêu dùng là hình thức tín dụng tài trợ cho nhu cầu sinh hoạt của dân cư (cá nhân và hộ gia đình). (Trích giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại-ĐH Công Nghiệp TP.HCM)

  •  Đặc điểm về hoạt động cho vay tiêu dùng
  • Cho vay tiêu dùng có lãi suất “cứng nhắc”

Các khoản cho vay tiêu dùng mang lại lợi nhuận khá cao cho ngân hàng nhưng với lãi suất “cứng nhắc”. Điều đó có nghĩa là nó đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, không như hầu hết các khoản vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, như vậy với cho vay tiêu dùng ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản vay tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Sở dĩ các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao vì trong danh mục cho vay của ngân hàng, khoản mục này có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất. Cạnh tranh trong lãi suất cho vay là mối quan tâm thường xuyên của các ngân hàng thương mại hiện nay.

  • Quy mô các khoản vay nhỏ

Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn, do các cá nhân vay nhằm mục đích tiêu dùng mà giá trị hàng hóa dịch vụ tiêu dùng là không quá lớn nên quy mô của từng món vay là không lớn. Người tiêu dùng với trình độ và nhận thức ngày càng cao sẽ vay nhiều hơn để nâng cao mức sống của bản thân và đáp ứng với các kế hoạch chi tiêu trên cơ sở triển vọng về thu nhập trong tương lai. Do đó, kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vay tiêu dùng của dân cư càng tăng lên. Ngoài ra, do cho vay tiêu dùng rủi ro cao đối với ngân hàng, nên các ngân hàng đều thận trọng trong việc cho vay. Các ngân hàng thương mại đều có quy định về tỷ lệ cho vay, về tài sản đảm bảo, khả năng trả nợ vay,… với các đối tượng có nhu cầu cho vay tiêu dùng.

  • Đối tượng của hoạt động cho vay tiêu dùng

Là các nhu cầu vay của cá nhân hay hộ gia đình, tùy thuộc vào tình hình tài chính của họ mà có những mức độ cho vay khác nhau với mục đích chủ yếu  như:  mua nhà, sửa chữa nâng cấp nhà, mua xe, đồ dùng sinh hoạt,…

  • Chi phí và rủi ro

Dịch vụ cho vay mà ngân hàng cung cấp cho người tiêu dùng là một trong những dịch vụ mang chi phí cao nhất với nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng vì tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng của công việc và sức khỏe của họ. Chính vì những lý do đó mà các khoản cho vay tiêu dùng phải được quản lý một cách chặt chẽ và linh hoạt trước những vấn đề đặt biệt có liên quan.

Rủi ro cho vay tiêu dùng cao vì nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn. Nếu người vay bị ốm, chết, hoặc bị mất việc, ngân hàng sẽ khó thu nợ. Nhiều khoản cho vay với thời hạn dài (mua nhà thế chấp,..). Vì vậy, nhiều ngân hàng lập quỹ dự phòng cho vay tiêu dùng để chuyên theo dõi các khoản cho vay tiêu dùng.

  • Nhu cầu vay

Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Nó tăng lên trong thời kì kinh tế mở rộng, khi mà mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương lai và ngược lại khi nền kinh tế rơi vào suy thoái.

  •  Phân loại cho vay tiêu dùng
  • Căn cứ vào mục đích cho vay
  • Cho vay tiêu dùng bất động sản: Các ngân hàng thường cho vay bất động sản để tài trợ mua những tài sản thực – nhà cửa, khu căn hộ, trung tâm mua bán, khu văn phòng, nhà kho, đất đai và các cơ cở vật chất khác. Cho vay bất động sản là một lĩnh vực mà bản thân nó chứa đựng một sự khác biệt quan trọng so với các dạng cho vay khác của ngân hàng. Trong hoạt động của ngân hàng, cho vay bất động sản có thể là món cho vay xây dựng ngắn hạn, được thanh toán đủ trong vài tháng hoặc vài tuần, cũng có thể là món vay dài hạn, kéo dài từ 20-30 năm , dù với bất cứ kỳ hạn nào thì cho vay bất động sản vẫn là lĩnh vực ngày càng phát triển nhanh chóng.
  • Cho vay tiêu dùng thông thường: Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí,… Những khoản tín dụng thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn, do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng như:

+ Cho vay mua xe ô tô thế chấp bằng chính xe mua là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn vốn giúp khách hàng mua xe ô tô phục vụ nhu cầu đi lại, giao dịch và kinh doanh, với tài sản thế chấp bằng chính xe mua.

+ Cho vay du học: Giúp khách hàng chuẩn bị nguồn tài chính kịp thời đáp ứng nhu cầu học tập cho con em mình. Nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh dịch vụ này nhằm thu hút những gia đình có con em đi du học đến với mình thông qua việc kéo dài thời hạn vay hay ưu đãi lãi suất.

+ Cho vay trả góp sinh hoạt tiêu dùng: Là sản phẩm tín dụng hỗ trợ nguồn vốn giúp khách hàng mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, cưới hỏi,… và các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.

+ Cho vay cầm cố, thế chấp sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá: Là sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân sở hữu sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá và nhu cầu cầm cố sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá để vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng.

  • Căn cứ vào cách thức hoàn trả
  • Cho vay tiêu dùng trả một lần: Khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn. Loại cho vay này thường áp dụng với khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn cho vay không dài.
  • Cho vay tiêu dùng trả góp: Đơn vị kinh doanh và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn vay. Loại cho vay này thường áp dụng với các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Thông thường có 4 phương pháp:

+ Phương pháp cộng thêm.

+ Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi tính theo số dư vào mỗi định kỳ.

+ Phương pháp trả vỗn và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ.

  • Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là hình thức ngân hàng cho phép khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng nhất định bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.
  • Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ.
  • Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương mại mua lại các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa cho người tiêu dùng.
  • Cho vay trực tiếp : Là các khoản tín dụng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng; Thẩm định năng lực pháp lý và năng lực tài chính của khách hàng; Đánh giá, chấm điểm khách hàng; Thực hiện giải ngân, giám sát và thu nợ khách hàng.
    •  Vai trò hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM
  • Đối với người tiêu dùng
  • Các ngân hàng thương mại thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người tiêu dùng. Với hình thức trả góp, khách hàng có thể xây sửa nhà, mua nhà, mua xe, du học,… khi mức tài chính hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu đó.
  • Bên cạnh đó, ngân hàng còn gia tăng tiện ích cho người vay, ngoài khoản tín dụng được cấp, khách hàng có thể sử dụng cách dịch vụ khác như chuyển tiền, mở thẻ ATM, Master Card, Internet Banking, Mobile Banking,…
  • Đối với khoản vay tiêu dùng tại ngân hàng, khách hàng sẽ có trách nhiệm và ý thức trả nợ, có động lực để phấn đấu, để nâng cao thu nhập trong tương lai.
  • Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có các kỳ hạn khác nhau. Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bên cạnh đó lãi suất linh hoạt cố định hay thả nổi… Vì thế khách hàng tùy ý lựa chọn kỳ hạn vay và thỏa thuận theo hình thức lãi suất vay phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình.
  • Đối với nền kinh tế
  • Cho vay tiêu dùng giúp điều hòa vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa.
  • Tín dụng tiêu dùng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản xuất mở rộng, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, hiện đại. Nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.
  • Mở rộng tín dụng có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật, áp dụng lãi suất cho vay hợp lý giúp kinh tế tăng trưởng.
  • Cạnh tranh trong nghành ngân hàng giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày càng phát triển, chất lượng dịch vụ ngày càng được hoàn thiện và nâng cao, nền kinh tế càng ổn định và bền vững.
  • Cho vay tiêu dùng giúp kích cầu nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ của các ngân hàng trong nước.
  • Đối với ngân hàng
  • Hoạt động cho vay là hoạt động chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng nó lại là hoạt động chính của ngân hàng cho vay. Bên cạnh rủi ro tiềm ẩn thì ngân hàng cho vay thu được lãi suất phù hợp với các khoản vay đó và đó cũng là thu nhập chính của ngân hàng cho vay.
  • Cho vay tiêu dùng giúp tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, từ đó thu hút được lượng khách hàng mới, mở rộng quan hệ với khách hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng.
  • Bằng cách mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ, tiện ích của ngân hàng sẽ càng ngày nhiều hơn, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh của ngân hàng. Ngân hàng không chỉ quan tâm đến các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, mà còn quan tâm đến những nhu cầu nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp ứng nguyện vọng cải thiện cuộc sống của người tiêu dùng.
  • Tạo điều kiện mở rộng và đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao thu nhập của ngân hàng đồng thời cũng phân tán rủi ro.
    •  Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM
      •  Nhân tố chủ quan
    • Quy mô vốn tự có và tổng nguồn vốn:

+ Mở rộng cho vay tiêu dùng phải tính đến vốn tự có để đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ( hệ số CAR ). Vì thế muốn phát triển cho vay tiêu dùng các ngân hàng phải luôn chú trọng tới gia tăng vốn điều lệ hay vốn tự có.

+ Ngoài yếu tố vốn tự có, khi phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại còn phải xem xét đến quy mô tổng nguồn vốn của ngân hàng. Với quy mô nguồn vốn lớn, ngân hàng sẽ có thể cho vay với số lượng lớn, đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng.

  • Các chính sách, quy định của ngân hàng: Chính sách tín dụng; Chính sách chăm sóc khách hàng trước và sau khi cấp tín dụng; Các quy định về lãi suất và phí tín dụng, thủ tục xin vay vốn; Thời gian thẩm định… Tất cả các yếu tố này đều tác động trực tiếp đến nhu cầu vay vốn của khách hàng.
  • Năng lực tài chính của ngân hàng: Là một trong những yếu tố quan trọng để đưa ra các quyết định về hoạt động cho vay tiêu dùng. Ngân hàng có sức mạnh tài chính lớn có thể đầu tư vào các danh mục mà ngân hàng quan tâm hơn thì hoạt động cho vay tiêu dùng có cơ hội phát triển.
  • Trình độ khoa học công nghệ: Nếu một ngân hàng được trang bị các công nghệ hiện đại thì có thể tăng tiện ích cho khách hàng và các dịch vụ sẽ được biết đến nhiều hơn. Đồng thời ngân hàng có thể quản lý danh sách khách hàng một cách dễ dàng hơn, tiết kiệm được nhân công cũng như chi phí quản lý góp phần giảm giá thành dịch vụ.
    •  Nhân tố khách quan.
  • Nhân tố thuộc về khách hàng:

+ Thói quen, phong tục tập quán, tâm lý…có ảnh hưởng tới nhu cầu vay tiêu dùng.

+ Đạo đức của người vay vốn là yếu tố quyết định hành vi trả nợ của khách hàng trong tương lai.

+ Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng.

  • Môi trường kinh tế: Nếu nền kinh tế phát triển tốt, thu nhập bình quân đầu người cao và môi trường chính trị ổn định thì hoạt động cho vay tiêu dùng cũng sẽ thông suốt, phát triển vững chắc và hạn chế tủi ro tín dụng.
  • Môi trường văn hóa xã hội: Môi trường văn hóa xã hội thể hiện các tập quán xã hội, bản sắc văn hóa dân tộc, tâm lý tiêu dùng giữa các vùng và văn hóa cộng đồng. Các yếu tố này ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.
  • Môi trường pháp lý: Hệ thống văn bản pháp luật của Nhà Nước là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM và có thể khuyến khích cũng như hạn chế cho vay nói chung cũng như cho vay tiêu dùng nói riêng.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Hoàn Thiện Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng Tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Hoàn Thiện Hoạt Động Cho Vay Tiêu Dùng Tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Bàn Về Vấn Đề Thừa Kế Theo Pháp Luật Việt Nam

BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: BÀN VỀ VẤN ĐỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.GIỚI THIỆU.

2.  CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT..

  • 2.1. Khái niệm thừa kế.
  • 2.2. Khái niệm thừa kế theo pháp luật

3.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT..

  • 3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật
  • 3.2. Các vướng mắc còn tồn tại trên thực tế khi áp dụng.

KIẾN NGHỊ

KẾT LUẬN..

TÀI LIỆU THAM KHẢO..

1.GIỚI THIỆU

Có thể nói rằng vấn dề về thừa kế và thừa kế theo pháp luật là vấn đề mang tính kinh tế, mang tính xã hội truyền thống nhưng cũng là vấn đề phức tạp về mặt pháp lý. Trong đó, đối với vấn đề có liên quan đến thừa kế theo pháp luật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan hệ dân sự về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Đối với vấn đề này đã được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật ở nước ta và có sự điều chỉnh từ những bộ luật thành văn từ xa xưa nhất. Việc điều chỉnh về vấn đề về thừa kế theo pháp luật để mục đích cuối cùng là giải quyết vấn đề về tranh chấp thừa kế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay là điều mà các cơ quan nhà nước hướng đến. Đích cuối của quả trình giải quyết tranh chấp chính là xác định đúng khối tài sản thừa kế và phân chia thừa kế theo pháp luật theo đúng kỷ phần mà người thừa kế có quyền được hưởng, việc xác định đúng thừa kế theo pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các án kiện về thừa kế. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những vấn đề liên quan đến thừa kế theo pháp luật- yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc giải quyết các án kiện về thừa kế còn nhiều nan giải cả về mặt lý luận và trong thực tiễn áp dụng.

Vì vậy, nghiên cứu về đề tài “Thừa kế theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay” là rất cần thiết và cấp bách góp phần phát hiện những hạn chế của pháp luật về thừa kế theo pháp luật và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi ở nước ta, từ đó hoàn thiện hệ thống pháp luật về thừa kế theo pháp luật nói riêng và hệ thống pháp luật dân sự nói chung đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thừa kế theo pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

2.1. Khái niệm thừa kế

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống” hay theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp thì thừa kế được giải thích là “Sự dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống. Thừa kế luôn gắn với sở hữu. Sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu”.

Như vậy, thừa kế được hình thành từ khi xã hội chưa phân chia giai cấp, nhưng khái niệm TKTPL thì chỉ ra đời và tồn tại trong những xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước. Tuy nhiên, mỗi một xã hội khác nhau sẽ có sự khác nhau trong quy định về thừa kế. Thậm chí, trong cùng một chế độ xã hội của một nhà nước, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, thì TKTPL cũng được quy định khác nhau cho phù hợp với sự phát triển.

Tại Việt Nam, trong trong các triều đại phong kiến trước đây, TKTPL đã được hình thành và dựa trên cơ sở lễ giáo phong kiến. Theo quy định về thừa kế trong Bộ luật Hồng Đức của thời Lê và Bộ luật HVLL của thời Nguyễn đều nhằm mục đích duy trì, bảo vệ những truyền thống chế độ gia đình phụ quyền và hiếu nghĩa của con cháu trong dòng tộc. Tuy nhiên, trong hai bộ luật này cũng không đưa ra khái niệm thế nào là thừa kế. Đến pháp lệnh thừa kế, BLDS năm 1995, 2005 và 2015 cũng không ghi nhận quy định về khái niệm thừa kế. Trên cơ sở nghiên cứu thì tác giả đưa ra khái niệm về thừa kế như sau: “Thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc. Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tập quán mà hệ trước để lại

2.2. Khái niệm thừa kế theo pháp luật

Có hai dạng thừa kế: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Một số quy định cơ bản liên quan đến quyền thừa kế: Diện thừa kế, thừa kế thế vị, tước quyền thừa kế …

“Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.

Thừa kế theo pháp luật là việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Cá nhân có quyền sở hữu với tài sản của mình, sau khi chết, số tài sản còn lại được chia đều cho những người thừa kế. Người được thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng. Thừa kế theo pháp luật chỉ được thực hiện trong trường hợp người chết không để lại di chúc hoặc có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật là cá nhân và có mối quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được pháp luật chỉ định hưởng di sản theo một trật tự ưu tiên là theo hàng thừa kế.

Qua việc phân tích trên đây có thể rút ra định nghĩa về thừa kế theo pháp luật như sau: Thừa kế theo pháp luật là sự dịch chuyển di sản của người chết cho người còn sống trên cơ sở quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hay quan hệ thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản.

Thừa kế theo pháp luật về bản chất vừa bảo vệ quyền đương nhiên của người có tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người có quan hệ huyết thống, gia đình hay thân thuộc với người đã chết có tài sản để lại.

3.THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật

Cùng với sự phát triển của đất nước thì việc thực hiện và hoàn thiện các quy định về thừa kế theo pháp luật nói riêng và quy định của BLDS nói chung trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Đặc biệt là khi quy định của BLDS 2015 được xây dựng và hoàn thiện nhằm đảm bảo hoàn thiện hơn các thi hành kể từ ngày 01/07/2016 góp phầnn hình thành nền tảng pháp lý cơ bản cho quy định về thừa kế theo pháp luật ở nước ta là rất quan trọng nhằm tạo điều kiện để cho vấn đề chia di sản thừa kế được thực hiện, đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể trong mối quan hệ được pháp luật thừa kế điều chỉnh một cách cụ thể. Những quy định về TKTPL là công cụ, biện pháp quan trọng góp phần giúp NN quản lý pháp luật về thừa kế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự ở nước ta của thời kỳ mới. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật nước ngoài, nước ta đã thông qua hoạt động ban hành hệ thống văn bản pháp luật quy định về thừa kế trong đó có các quy định về di sản thừa kế phù hợp với tình hình thực tiễn và hoàn cảnh nước talà một mốc son trong lịch sử lập pháp của nước nhà, tạo ra cơ sở pháp lý nhằm tiếp tục giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ mới. Đồng thời, hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn nêu trên đã giúp cho quá trình áp dụng những quy định của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo pháp luật nói riêng ở nước ta được thực hiện một cách hoàn thiện hơn.

3.2. Các vướng mắc còn tồn tại trên thực tế khi áp dụng

Bên cạnh những kết quả đạt được thì quy định về thừa kế theo pháp luật vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng trong thực tiễn, cụ thể như sau:

Một là, trong quy định về thừa kế thế vị liên quan đến con nuôi được quy định tại Điều 653 BLDS năm 2015: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này”. Quy định này vẫn còn khá chung chung dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như:

(i) khi người con đẻ của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì người con nuôi của người con đẻ của người để lại di sản có được hưởng thừa kế thế vị hay không?

(ii) khi con nuôi của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì con đẻ của người con nuôi đó có được hưởng thừa kế thế vị không?

(iii) người con nuôi của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì con nuôi của người con nuôi đó có được hưởng thừa kế thế vị không?

Hai là, quy định tại Điều 654 BLDS năm 2015 thì: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này”. Theo đó, để được hưởng quyền thừa kế di sản giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế thì pháp luật quy định họ phải có quan hệ chăm sóc nhau như cha con, mẹ con. Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng quy định này để giải quyết các trường hợp cụ thể thì có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất về nội dung như thế nào được hiểu là “chăm sóc như cha con, mẹ con” và dựa vào tiêu chí nào để đánh giá là có sự chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì pháp luật cũng chưa đề cập đến. Ngoài ra, việc xác định hàng thừa kế sau khi đã xác định được quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha con, mẹ con thì điều luật lại không quy định trong trường hợp này thì con riêng, bố dượng, mẹ kế sẽ thuộc hàng thừa kế thứ mấy nếu đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 về người thừa kế theo pháp luật.

Ba là, tranh chấp giữa những người thừa kế với người quản lý di sản thường là về thù lao cho người quản lý di sản, hoặc tính hợp pháp của người được giao nghĩa vụ quản lý di sản. Mặt khác, tranh chấp có thể là về việc người quản lý di sản trên thực tế là người chiếm hữu di sản của người chết từ khi người đó còn sống, và khi chết thì vẫn không có ý định thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của  BLDS 2015.

Bốn là, quy định tại Điều 652 BLDS năm 2015 thì: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”. Với quy định trên, nếu hiểu theo câu chữ của điều luật thì khi cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt không được quyền hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ do có một trong các hành vi được nêu tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 sẽ kéo theo cháu hoặc chắt cũng không thể được thay thế vị trí của cha mẹ để hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ. Theo giải đáp tại tiểu mục 4 Mục II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của TANDTC thì: Thừa kế thế vị được hiểu là hưởng thay và đối tượng hưởng thay đã được quy định rõ là “phần di sản của cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống”. Trường hợp một người đã không được quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của BLDS năm 2015, như bị kết án về hành vi ngược đãi nghiêm trọng người cha thì họ sẽ không được hưởng di sản của người cha. Do vậy, nếu họ còn sống khi cha chết thì họ cũng không được hưởng di sản thừa kế nên không có “phần được hưởng nếu còn sống” để cho người khác hưởng thế vị. Như vậy, cha mẹ của cháu hoặc chắt phải là người được quyền hưởng di sản thì cháu hoặc chắt mới được hưởng thế vị thay cha, mẹ khi cha, mẹ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản. Dưới góc độ nghiên cứu khoa học, vẫn còn nhiều tác giả có quan điểm không thống nhất với cách lý giải nêu trên, với lý do nhằm bảo vệ quyền hưởng di sản của cháu và chắt khi: (i) bản thân họ không bị Tòa án tước quyền hưởng di sản và (ii) không bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản và (iii) họ có năng lực pháp luật để thừa hưởng di sản hoặc (iv) trường hợp cháu và chắt chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động. Do vậy, theo tác giả pháp luật cũng nên cho họ được hưởng thừa kế thế vị, mặc dù cha mẹ của họ trước khi chết đã rơi vào một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015.

Năm là, việc xác định theo quá trình sinh sản tự nhiên còn trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản còn một số khác biệt hơn: Trong trường hợp đang tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng chết, đứa trẻ sinh ra đã quá 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt thì đứa trẻ có được xác định là con chung của vợ, chồng không? Trong trường hợp này là có mong muốn của cả hai vợ chồng nhưng quá thời gian luật định, hiện pháp luật chưa có quy định cụ thể. Theo người viết, tuy nguyên tắc quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014,thì đứa trẻ trong trường hợp này không là con chung của vợ, chồng nhưng tế đứa trẻ đó mang huyết thống của người cha đã chết và được sinh ra hoàn toàn dựa trên sự mong muốn của người đã khuất. Do vậy, nếu xác định đứa trẻ sinh ra không phải con chung của cặp vợ chồng vô sinh thì sẽ ảnh hưởng lớn . Ngoài ra, pháp luật hiện hành cũng chưa có quy định đối với trường hợp đang trong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà người chồng bị tuyên bố mất tích thì người vợ có được tiếp tục thực hiện và nếu thực hiện thì xác định cha, mẹ, con như thế nào? Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền thừa kế của đứa bé sinh ra bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản. Do vậy, cần thiết phải ban hành hướng dẫn về vấn đề này.

4. KIẾN NGHỊ

Một là, cần hoàn thiện quy định về trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt có một trong các hành vi vi phạm được nêu tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 thì cháu hoặc chắt là người không có lỗi và cũng không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi do cha, mẹ của họ gây ra. Mặt khác, trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội, tức là “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”, do vậy các cháu hoặc chắt của người để lại di sản không có nghĩa vụ gánh chịu những hành vi độc lập của cha mẹ gây ra trong quan hệ cụ thể này. Ngoài ra, về phương diện lý luận và thực tiễn, không có quyền hưởng di sản là một chế tài được áp dụng đối với riêng người có lỗi Do vậy, quyền thừa kế thế vị của cháu hoặc chắt không thể bị pháp luật tước bỏ khi mà giữa cha, mẹ và các con hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự với tư cách cá nhân và hành vi của họ lại hoàn toàn độc lập với nhau. Cho nên, nếu chỉ hiểu một cách máy móc là cha hoặc mẹ của cháu khi còn sống không có quyền hưởng di sản, thì cháu cũng không có quyền hưởng thừa kế thế vị nếu cha, mẹ của cháu chết trước hoặc chết cùng với ông, bà thì đó là điều hết sức bất công, đã sa vào tình trạng “quýt làm, cam chịu”, không phù hợp với xu hướng chung của pháp luật hiện đại và trái với truyền thống, tập quán, quan niệm về thừa kế trong nhân dân. Do vậy, thiết nghĩ để đảm bảo quyền, lợi ích của các cháu của người để lại di sản, đặc biệt là trường hợp cháu và chắt là người chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.

Hai là, đối với trường hợp thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi. Có quan điểm cho rằng, “con nuôi của con đẻ không được thừa kế thế vị” và “chỉ có con đẻ thay thế vị trí của cha, mẹ đẻ”. Kể từ khi BLDS năm 1995 ra đời, đến BLDS năm 2005 và nay là BLDS năm 2015 thì vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về trường hợp thừa kế thế vị có yếu tố con nuôi, nên Nghị quyết 02/HĐTP vẫn còn mang tính chất tham khảo. Đến nay, Nghị quyết 02/HĐTP đã ra đời gần 30 năm, nên không phù hợp với xu thế chung của pháp luật hiện đại – hướng đến bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người dân. Tác giả cho rằng, quan điểm trên về mặt lý luận chưa thực sự được thuyết phục, khi vận dụng phương pháp phân tích câu chữ (biện luận dựa vào nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật và nguyên tắc suy lý mạnh) để tìm ra ý chí của người làm luật. Cụ thể: Theo quy định tại Điều 652 BLDS năm 2015 thì: “… cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống…”. Quy định này chỉ đề cập đến “cha hoặc mẹ” của cháu chứ không có sự phân biệt là “cha đẻ hoặc mẹ đẻ với cha nuôi hoặc mẹ nuôi”, cho nên chúng ta có thể suy luận cả hai trường hợp này đều thuộc diện thừa kế thế vị. Sự suy luận này được củng cố thêm bởi quy định tại Điều 653 BLDS năm 2015, đó là: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 (thừa kế theo pháp luật) và Điều 652 (thừa kế thế vị) của Bộ luật này”. Hơn nữa, khi bàn đến “cháu”, nếu các nhà làm luật muốn giới hạn cháu được hưởng di sản như quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 651 BLDS năm 2015 về hàng thừa kế thứ hai và thứ ba, thì các nhà làm luật sẽ nêu rõ là “cháu ruột”.

Ba là,  hoàn thiện quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và cha dượng, mẹ kế phát sinh dựa trên cơ sở nuôi dưỡng, chăm sóc nhau như cha con, mẹ con. Tuy nhiên, để hiểu như thế nào là “chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con” thì hiện nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn một cách cụ thể. Do đó, để áp dụng chế định “quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế”, chúng ta cần phải chứng minh sự tồn tại “quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con” giữa cha dượng và con riêng của vợ, mẹ kế và con riêng của chồng. Ngoài ra, chúng ta còn có thể hiểu, con riêng và cha dượng, mẹ kế chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con khi giữa họ thể hiện những hành vi được quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, cha dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và quyền cùng yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con riêng, chăm lo cho việc học tập và giáo dục con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức,… cha, mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, không ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con,…; con riêng có bổn phận yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với cha dượng, mẹ kế, có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ, không được ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ,…

Bốn là, cần tiếp tục ban hành các quy định của pháp luật nhằm đưa BLDS 2015 thi hành đạt hiệu quả cao. Việc ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể BLDS 2015 nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật về TKTPL thì các cơ quan có thẩm quyền cần sửa đổi những quy định của pháp luật Việt Nam về TKTPL nhằm nâng cao mức độ tương thích pháp luật trong nước và thế giới. Việc xây dựng các văn bản về TKTPL được thực hiện trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước có hệ thống pháp luật thừa kế tương đối hoàn chỉnh và thực tiễn áp dụng phong phú. Đồng thời, áp dụng những kinh nghiệm thực tế thông qua các vụ việc tranh chấp về TKTPL trở thành các án lệ và có quy định nhằm áp dụng các án lệ đó vào quá trình xét xử của Tòa án nói chung. Tích cực nghiên cứu những quy định pháp luật liên quan của các nước trên thế giới và chuyển hóa một cách hợp lý những quy định phù hợp vào điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay.  Hiện nay, chúng ta không công nhận án lệ nên rất khó áp dụng pháp luật trong thực tế. Vì, các quan hệ phát sinh từ nhà, đất luôn thay đổi và rất sinh động nên pháp luật về nhà, đất phải thường xuyên sửa đổi và hướng dẫn bằng văn bản nhưng mỗi lần sửa đổi và hướng dẫn phải qua nhiều thủ tục rất phức tạp và khó khăn. văn bản pháp luật cũ và văn bản pháp luật mới.

5. KẾT LUẬN

Thừa kế theo pháp luật là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như khoa học xã hội, khoa học pháp lý,… Xét ở góc độ pháp lý, thừa kế theo pháp luật là tổng hợp những quy định của Nhà nước về hình thức để đảm bảo cho việc phân chia tài sản của người đã khuất cho các chủ thể có liên quan trong mối quan hệ được pháp luật dân sự điều chỉnh. Với những chức năng ưu việt – giải quyết về quyền sở hữu tài sản nói chung và các nghĩa vụ cho các đối tượng có liên quan thì chế định này đã trở thành những quy định có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt lớn và không thể thiếu trong điều kiện nền kinh tế – xã hội hiện nay.

Qua hơn 30 năm đổi mới, cùng với việc xây dựng và phát triển đất nước thì việc quan tâm nhằm ban hành và thực thi các quy định pháp luật dân sự nói chung và thừa kế, thừa kế theo pháp luật nói riêng đã trở thành một chính sách, những quan điểm luôn được chú ý thay đổi nhằm đáp ứng với nhu cầu đổi mới của đất nước, nhất là từ khi kinh tế – xã hội nước ta chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do những đặc thù của nước ta trong vấn đề quản lý nên bên cạnh những ưu điểm nổi bật, chính sách về thừa kế theo pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định trên ở nước ta còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, thiếu sót. Thực tế trên đòi hỏi chúng ta cần xây dựng chính sách về thừa kế theo pháp luật và các quy định về thừa kế một cách hoàn thiện và mở rộng hơn nữa. Thông qua đó, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về pháp luật dân sự ở nước ta, ngoài ra, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự nói chung nhằm tạo hành lang pháp lý khi hội nhập kinh tế – xã hội trong khu vực và trên thế giới.

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế và sự tiến bộ của xã hội, các quy định về TKTPL sẽ ngày càng mở rộng hơn, hoàn thiện hơn. Hy vọng bằng những giải pháp trên sẽ tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, thông suốt, phát huy tính tích cực, khắc phục những hạn chế của quy định về vấn đề này cũng như nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức thực hiện pháp luật về thừa kế nói riêng và pháp luật dân sự nói chung ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời gian trở lại đây.

6. TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Quốc Hội (2013), Hiến pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
  2. Quốc Hội (1995), Bộ Luật Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
  3. Quốc Hội (2005), Bộ Luật Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
  4. Quốc Hội (2015), Bộ Luật Dân sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
  5. Quốc Hội (2014), Luật Công chứng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
  6. Quốc Hội (2013), Luật đất đai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
  7. Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán ngày 10 tháng 8 năm 2004 Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Bàn Về Vấn Đề Thừa Kế Theo Pháp Luật Việt Nam

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Bàn Về Vấn Đề Thừa Kế Theo Pháp Luật Việt Nam các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thưc tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Các Ngoại Lệ Chung Trong Hiệp Định GATT 1994 Qua Các Vụ Việc Giải Quyết Tranh Chấp Của WTO

BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: ÁP DỤNG CÁC NGOẠI LỆ CHUNG TRONG HIỆP ĐỊNH GATT 1994 QUA CÁC VỤ VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO

  1. Tính cấp thiết của đề tài báo cáo thực tập:

Hiện nay, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế và tự do hóa thương mại đã và đang trở thành xu thế của kinh tế thế giới mới. Các quốc gia liên kết với nhau thành những tổ chức thương mại để dễ dàng phát triển và tổ chức thương mại lớn nhất hiện nay là WTO, với những mục tiêu lớn như: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển thể chế thị trường, bảo vệ môi trường, giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên, nâng cao mức sống… WTO đã trở thành chuẩn mực chung cho thương mại thế giới. Với nguyên tắc nền tảng Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia nhằm tạo ra một môi trường  bình đẳng, không phân biệt đối sử, công bằng cho tất cả các nước thành viên.

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994 là một trong những hiệp định quan trọng của WTO, song song với các nguyên tắc nền tảng trên, GATT còn đưa ra các ngoại lệ của những nguyên tắc này nhằm bảo vệ những giá trị cốt lõi như an ninh, lợi ích quốc phòng, sức khỏe con người, truyền thống lịch sử, tài nguyên quý hiếm.… của mỗi quốc gia. Theo đó các nước thành viên có thể áp dụng các biện pháp trái với các nguyên tắc trên trong phạm vi cho phép khi thực thi nghĩa vụ của mình để bảo vệ những giá trị tiên quyết của mình.

Tuy nhiên, trong những tranh chấp với các quốc gia thành viên những nguyên tắc nên tảng này thường xuyên bị vi phạm vì nhiêu lý do nhưng chủ yếu vẫn là từ nhu cầu bảo hộ sản phẩm trong nước. trong nhiều trường hợp họ đã viện dẫn những ngoại lệ chung trong  GATT được quy định tại điều XX,  để biện minh cho vi phạm của mình. Điều này làm mất đi giá trị cốt lõi của các ngoại lệ là bỏ qua lợi ích về thương mại để bảo vệ những giá trị tiên quyết và cấp thiết hơn.

Những ngoại lệ chung  được quy định trong điều XX Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994 giúp các quốc gia thành viên giải quyết những khó khăn trong quá trình thực thi những cam kết và nghĩa vụ mà có liên quan chủ quyền, an ninh, tài nguyên môi trường, truyền thống đạo đức… Nhưng việc vận dụng những ngoại lệ này không phải dễ dàng bởi chưa có một quy định chung nào cho tất cả các vụ việc, việc áp dụng nó tùy thuộc vào từng vụ tranh chấp cụ thể, gây khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp.

Việt nam chúng ta là một thành viên chính thức của W  thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ đã cam kết. Xong các ngoại lệ đang ngày càng bị vận dụng như một rào cản thương mại, Việt Nam cũng đang dần tham gia sâu vào WTO vậy nên rủi ro gặp phải tranh chấp liên quan đến các ngoai lệ chung là không thể tránh khỏi. đồng thời việc vận dụng những ngoại lệ này để bảo vệ những lợi ích cốt lõi cho đất nước hết sức là quan trong trong tương lai gần.

Nhận thấy được tính cấp thiết, ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của việc hiểu biết và vận dụng các ngoại lệ chung trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994, người viết lựa chọn đề tài “Áp dụng các ngoại lệ chung trong hiệp định GATT 1994, qua các vụ việc giải quyết tranh chấp của WTO” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

  1. Mục tiêu nghiên cứu
  • Mục tiêu tổng quát:

Xác định được những quy định liên quan đến các ngoại lệ chung trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994 từ đó hiểu rõ hơn về các ngoại lệ này.  Đi sâu vào phân tích một số những vụ tranh chấp điển hình trong WTO liên quan đến vấn đề này cũng từ đó nắm bắt được việc áp dụng các ngoại lệ chung. Rút ra những bài học cốt lõi, và đưa ra một số những đề xuất.

  • Mục tiêu cụ thể:

Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về các ngoại lệ chung trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994. Cụ thể là các vấn đề về nguyên tắc Tối huệ quốc và Đối xử quốc gia, phân biệt ngoại lệ và miễn trừ, nội dung của các ngoại lệ chung này, điều khiện và trình tự áp dụng nó, thực tiễn áp dụng các ngoại lệ chung này trên cơ sở phân tích các vụ tranh cấp điển hình đưa ra được những đánh giá chung về thực tiễn đã nghiên cứu, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam,  đề xuất một số vấn đề về xây dựng và hực thi chính sách, về đàm phán thương mại quốc tế, tham gia tranh tụng thương mại quốc tế và một số đề xuất khác.

  1. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
  • Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các ngoại lệ chung trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994, được quy định tại điều XX của hiệp định này, cũng như việc áp dụng các ngoại lệ này trong việc giải quyết tranh chấp.

  • Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các ngoại lệ chung được quy định tại điều XX Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994, các vụ tranh chấp liên quan đến các ngoại lệ chung trong khuôn khổ WTO. Thời gian từ khi WTO ra đời đến nay.

  1. Nội dung nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận

–  Nội dung cuả nguyên tắt Tối huệ quốc và Đối xử  quốc gia, tạo ra một môi trường thương mại không phân biệt đối xử, và nó thì có ngoại lệ.

–  Phân biệt ngoại lệ và miễn trừ, đưa ra khái niệm của ngoại lệ và miễn trừ từ đó đưa ra điểm giống và khác nhau của hai khái niệm.

–  Phân tích nội dung của từng ngoại lệ chung trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994.

–  ý nghĩa và vai trò quan trọng của các ngoại lệ chung trong việc bảo vệ giá trị cốt lõi của mỗi quốc gia thành viên

–  điều kiện và trình tự áp dụng các ngoại lệ chung

4.2. Thực tiễn

–  Tổng quan về việc vận dụng các ngoại lệ chung: Việc áp ngoại lệ chung vào các vụ tranh chấp đa số đều thất bại trong các vụ khiện,  bản thân quy định này không đưa ra một cơ sở pháp lý đầy đủ để giải quyết các vụ tranh chấp.

– phân tích các vụ tranh chấp điển hình đưa ra đánh giá chung về thực tiễn áp dụng các ngoại lệ chung

4.3. Đề xuất

Đề xuất một số vấn đề về xây dựng và thực thi chính sách, về đàm phán thương mại quốc tế, tham gia tranh tụng thương mại quốc tế và một số đề xuất khác.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa, so sánh, quy nạp…

  1. Kết cấu đề tài báo cáo thực tập

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, khóa luận gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về các ngoại lệ chung trong hiệp định GATT 1994
  • Chương 2: Thực tiễn các ngoại lệ chung của GATT 1994 vào giải  quyết tranh chấp trong WTO
  • Chương 3: Khinh nghiệm cho việt nam và một số đề xuất kiến nghị

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NGOẠI LỆ CHUNG TRONG HIỆP ĐỊNH GATT 1994

1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc và Đối sử quốc gia trong GATT 1994

1.1.1. Nguyên tắc Tối huệ quốc

1.1.2. Nguyên tắc Đối sử quốc gia

1.2. Các ngoại lệ chung trong Hiệp định GATT 1994

1.2.1. Phân biệt ngoại lệ và miễn trừ

1.2.2. nội dung của các ngoại lệ chung

1.2.2. ý nghĩa và vai trò của các ngoại lệ chung

1.3. Áp dụng các ngoại lệ để giải quyết tranh chấp trong WTO

1.3.1. Giải quyết trang chấp trong WTO

1.3.2. Điều kiện áp dụng các ngoại lệ chung

1.3.3. Trình tự áp dụng các ngoại lệ chung trong GATT 1994

Chương 2: THỰC TIỄN CÁC NGOẠI LỆ CHUNG CỦA GATT 1994 VÀO GIẢI  QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO

2.1. Tổng quan về việc vận dụng các ngoại lệ chung của GATT 1994

2.2. Phân tích một số vụ tranh chấp điển hình

2.2.1. Mĩ – Tôm DS58

2.2.2. EU – Hải cẩu DS401

2.2.3. Thái Lan – Thuốc lá DS371

2.2.4. Hàn Quốc – Các biện pháp áp dụng đối với thịt bò DS161 – DS169

2.2.5. Mỹ – Cá ngừ DS381

2.3. Đánh giá chung về thực trạng vận dụng các ngoại lệ chung của GATT 1994

Chương 3: KHINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ

3.1. kinh nghiệm cho Việt Nam

3.2. Đề xuất cho Việt Nam

3.2.1. Đề xuất về việc xây dựng và thực hiện chính sách

3.2.2. Đề xuất về việc đàm phán thương mại quốc tế

3.2.3. Đề xuất tham gia tranh tụng thương mại quốc tế

3.2.4. Một số đề xuất khác

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 Tài liệu tham khảo tiếng việt

  1. Chủ biên TS Nguyễn Bá Bình (20/12/2017), Giáo trình pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Trường đại học Luật Hà Nội, quyết định xuất bản số 162/QĐ-NXBTP.
  2. Nguyễn Ngọc Lâm, Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế: nhận dạng tranh chấp, biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết (2010), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  3. Nguyễn Thị Mơ (2011), Pháp luật thương mại quốc tế NXB Lao động.
  4. Hiệp định MARRAKESH số 204/WTO/VB về thành lập tổ chức thương mại thế giới, ngày 15/04/1994.
  5. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1994.
  6. Dự thảo Thông tư số20/2015/TT-BKHCN, ngày 01/12/2015.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Các Ngoại Lệ Chung Trong Hiệp Định GATT 1994 Qua Các Vụ Việc Giải  Quyết Tranh Chấp Của WTO

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Các Ngoại Lệ Chung Trong Hiệp Định GATT 1994 Qua Các Vụ Việc Giải  Quyết Tranh Chấp Của WTO các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Lý Luận Chung Về Quản Lý Hoạt Động Quảng Cáo Thương Mại Ngoài Trời

BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI NGOÀI TRỜI

1.1. Một số khái niệm 

1.1.1. Quảng cáo

Trong Từ điển Tiếng Việt do Nxb Thanh niên năm 1988 có nêu: “Quảng cáo là trình bày, giới thiệu rộng rãi cho nhiều người biết, nhằm tranh thủ được nhiều khách hàng”.

Luật Quảng cáo của Nhà nước ban hành chính thức ngày 21 tháng 06 năm 2012 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2013, theo đó quảng cáo được hiểu là: “Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lời; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lời; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự, chính sách xã hội; thông tin cá nhân”

Trên thê giới có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về quảng cáo. Khái niệm chung từ “quảng cáo” có nguồn gổc tiếng Latin là “Advertere” có nghĩa là “hướng ý nghĩ về”. Theo cách hiểu truyền thống, quảng cáo là việc truyền đạt thông tin từ một người đến nhiều người. Với nghĩa đó, quảng cáo xuất hiện từ rất lâu và có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Quảng cáo có lịch sử phát triển lâu đời, phạm vi ứng dụng rộng nên khái niệm quảng cáo có rất nhiều nhưng được phân chia theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp với những đặc điếm khác nhau:

Theo nghĩa rộng, quảng cáo được hiểu là sự thông tin truyền cảm hoặc thuyết phục gây ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực tới người khác nhằm hướng đến một số hành động. Đặc điểm chủ yếu của loại quảng cáo này là đối tượng, nội dung quảng cáo đều rộng, gồm cả quảng cáo kinh doanh, thương mại nhằm mục đích thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và quảng cáo phi kinh doanh, thương mại nhằm tác động vào nhận thức của công chúng về các vấn đề chính trị, xã hội…

Có thể thấy, quan niệm về quảng cáo rất đa dạng, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi quốc gia, lĩnh vực, ngành nghề mà người ta muốn hướng tới, mức độ sử dụng các phương tiện thông tin trong truyền bá quảng cáo. Mục đích của quảng cáo là thu lợi nhuận, tuy nhiên nội dung, hình thức thể hiện trên các sản phẩm quảng cáo lại mang tính chất của thông tin, văn hóa nhằm biểu đạt nội dung của quảng cáo đến người tiêu dùng. Đây là những đặc trưng rất cơ bản của quảng cáo, như là một ngành kinh tế xã hội, một hoạt động văn hóa sâu sắc.

1.1.2. Quảng cáo ngoài trời

Quảng cáo ngoài trời là hình thức quảng cáo lâu đời, cổ xưa nhất và có những đặc điểm khác với những phương tiện quảng cáo khác. Với sự phát triển đa dạng, phong phú của các hình thức sử dụng cho quảng cáo ngoài trời như: quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo và phương tiện giao thông; quảng cáo trong chương trình văn hóa, thể thao, hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm, tổ chức sự kiện, đoàn người thực hiện quảng cáo, vật thể quảng cáo.

Ngày nay, với điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, “quảng cáo ngoài trời” được biết đến với thuật ngữ tiếng Anh là “out of home” – tất cả các loại hình quảng cáo tác động đến người tiêu dùng khi họ bước ra bên ngoài ngôi nhà họ đang sống, tham gia vào không gian công cộng. Như vậy, không gian để thực hiện quảng cáo ngoài trời rất rộng vì nhiều loại hình quảng cáo dù là trong nhà nhưng vẫn được xếp vào ngoài trời như: quảng cáo trong thang máy, trong siêu thị, sảnh của các tòa nhà…

Các loại hình quảng cáo ngoài trời xuất hiện rất đa dạng. Tùy theo tính chất sản phẩm, dịch vụ cần quảng cáo, khách hàng chọn lựa hình thức quảng cáo trong các loại hình cơ bản: “billboard” là quảng cáo tầm cao, thích hợp cho quảng cáo nguyên vật liệu, hàng hóa công nghiệp, xây dựng, bưu chính viễn thông hoặc các sản phẩm tiêu dùng lâu năm như tivi, tủ lạnh, xe hơi… Trong khi đó, loại hình “street furniture” quảng cáo ở tầm thấp như nhà chờ xe buýt, ki ốt, các loại banner trên đường, thích hợp với những sản phẩm tiêu dùng gần gũi như nước giải khát, đồ ăn nhanh, mỹ phẩm… Ngoài ra còn loại hình quảng cáo di động (transit) trên các phương tiện vận tải và các hình thức quảng cáo dưới dạng trưng bày hình ảnh, truyền tải thông điệp ở những khu vực thương mại dịch vụ đông người, thể hiện qua các poster, brochure, leaflet… được gọi chung là POSM (points of sale materials).

Ngoài những hình thức quảng cáo truyền thống như bảng vẽ, hộp đèn, bảng chiếu điện tử… nhiều công ty quảng cáo đang khai thác những những loại hình quảng cáo công nghệ cao như màn hình LED, màn hình cảm ứng tương tác (với người tiêu dùng), kỹ thuật chiếu 3D vào không gian (holovision)…

Quảng cáo ngoài trời có những đặc điểm khác với những phương tiện quảng cáo khác. Đây không phải là phương tiện truyền phát các thông điệp. Quảng cáo ngoài trời không mang lại được thông tin cho người nhận mà chính người nhận đến với quảng cáo, mặc dù họ xem xét khi đang tiến hành các hoạt động khác. Người tiếp nhận quảng cáo hầu như không phải nỗ lực gì khi tiếp nhận quảng cáo ngoài trời.

1.1.5. Quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời

Theo Luật Quảng cáo thì quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo là rất rộng bao gồm cả việc xây dựng quy phạm pháp luật, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ, kiểm tra, khen thưởng

Quản lý nhà nước là nói chung cho mọi quốc gia, nó mang nhiều yếu tố tác động. Lĩnh vực văn hóa – thông tin cũng là đối tượng đặc biệt trong quản lý nhà nước. Trong đó, hoạt động quảng cáo là một trong những nội dung của quản lý nhà nước về văn hóa – thông tin. Hiện nay, hoạt động quảng cáo nói chung trên lãnh thổ Việt Nam được điều chỉnh bởi Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 được Quốc hội ban hành tại kỳ họp thứ 13, ngày 21/6/2012 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. Luật Quảng cáo quy định chính sách của nhà nước đối với hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo; tạo điều kiện, khuyến khích để các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ để phát triển và nâng cao chất lượng quảng cáo; phát triển nguồn nhân lực quảng cáo, ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho lực lượng quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo; mở rộng hợp tác quốc tế về quảng cáo.

Để tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo đồng thời tạo điêu kiện thuận lợi cho hoạt động này phát triển đúng hướng, trước hết cần khẳng định vai trò và chức năng quản lý nhà nước về hoạt động này. Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động quảng cáo mà trách nhiệm, phạm vi, phương thức tác động của nhà nước đối với quảng cáo có đặc điểm riêng biệt. Vì vậy, cần nhận thức rõ về vị trí, vai trò của hoạt động quảng cáo đối với đời sống kinh tế – xã hội và sự tác động của nền kinh tế thị trường đối với quảng cáo để nhằm từng bước tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quảng cáo phát triển đúng hướng. Nhằm phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm quản lý nhà nước về quảng cáo là: Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo đối với hành vi hoạt động quảng cáo của con người, duy trì và phát triển các mối quan hệ về hoạt động quảng cáo và trật tự pháp luật về quảng cáo, để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về quảng cáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tồ quốc Việt Nam XHCN.

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Lý Luận Chung Về Quản Lý Hoạt Động  Quảng Cáo Thương Mại Ngoài Trời

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Lý Luận Chung Về Quản Lý Hoạt Động  Quảng Cáo Thương Mại Ngoài Trời các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần viết thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Thực Trạng Cấp Phép Và Xử Lý Hành Vi Phạm Pháp Đối Với Quảng Cáo Ngoài Trời Tại TP Cam Ranh

Bài Báo Cáo Thực Tập: THỰC TRẠNG CẤP PHÉP VÀ XỬ LÝ HÀNH VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI QUẢNG CÁO NGOÀI TRỜI TẠI TP. CAM RANH

MỞ ĐẦU

  1. Lý do chọn đề tài báo cáo thực tập:

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là vấn đề tất yếu thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp. Trong sự cạnh tranh đó, các doanh nghiệp sử dụng mọi biện pháp để tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng, cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại như: tuyên truyền, giới thiệu, khuyếch trương, quảng bá, khuyến mại hàng hóa dịch vụ… Trong đó, quảng cáo là một hoạt động xúc tiến hàng hóa được các doanh nghiệp ưa chuộng và rất cần thiết trong thị trường kinh doanh hiện nay. Sự phát triển nhanh và đa dạng của hoạt động quảng cáo một mặt đã kích thích tiêu thụ hàng hóa, đưa sản phẩm tiếp cận với người tiêu dùng một cách nhanh chóng. Mặt khác, quảng cáo còn mang trong mình những giá trị thẩm mỹ, tính giáo dục và truyền thống văn hóa của dân tộc góp phần làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần xã hội, tạo tiền đề thuận lợi để nước ta phát triển theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Cùng với cả nước, Khánh Hòa trong đó có TP. Cam Ranh đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển đi lên của thành phố. Sự thay đổi tích cực đó đã tạo điều kiện và thời cơ cho các hoạt động quảng cáo thuơng mại ngoài trời ở TP. Cam Ranh nói riêng và tỉnh Khánh Hòa nói chung phát triển mạnh. Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời của thành phố và cụ thể trên địa bàn TP. Cam Ranh còn bộc lộ sự lộn xộn, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng tới giao thông, mỹ quan đô thị. Nhiều biển quảng cáo không có giấy phép, nội dung quảng cáo không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời mặc dù đã thực hiện Luật Quảng cáo của Nhà nước ban hành chính thức ngày 21 tháng 06 năm 2012 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2013. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện nay, việc quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời vẫn còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành dịch vụ này trong thời kì CNH, HĐH đất nước. Chính vì vậy, quảng cáo thương mại ngoài trời đòi hỏi những nhà quản lý phải đưa ra những biện pháp và quy chế phù hợp để đưa hoạt động quảng cáo vào khuôn khổ, đảm bảo mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông chung trên địa bàn quận. Đồng thời, góp phần tích cực thúc đẩy hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trở thành một ngành kinh tế mạnh, có vị trí xứng đáng trong thời kì đất nước đổi mới.

Với những lý do cấp thiết trên, em đã chọn đề tài báo cáo thực tập: Thực trạng cấp phép và xử lý vi phạm pháp luật đối với quảng cáo ngoài trời tại Tp. Cam Ranh làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình. Nghiên cứu đề tài này, em mong muốn có một cái nhìn toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời, nhằm tạo hướng đi đúng đắn phát triển ngành công nghiệp sáng tạo này, mang lại lợi ích thiết thực về kinh tế – văn hoá – xã hội cho TP. Cam Ranh

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh. Từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả cấp phép và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động quảng cáo này.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quảng cáo, quảng cáo ngoài trời, quảng cáo thương mại ngoài trời và quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời.

Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh

  1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi vấn đề: Quản lý về hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh

Thời gian: Từ tháng 1/2013 đến nay.

Không gian: Trên địa bàn TP. Cam Ranh

  1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập tài liệu: Phương pháp này cho phép thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời.

Phương pháp khảo sát thực tế: Phương pháp này được sử dụng để thu thập các mẫu quảng cáo ngoài trời.

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này nhằm phỏng vấn những người làm quảng cáo, những cán bộ quản lý hoạt động quảng cáo để từ đó chỉ ra những thách thức, áp lực và kiến nghị của người làm quảng cáo, cán bộ quản lý hoạt động quảng cáo, đồng thời nắm bắt được thái độ, phản hồi của người dân về hoạt động quảng cáo.

Phương pháp thống kê – phân loại: Phương pháp này nhằm thống kê, phân loại các yếu tố trong hoạt động quảng cáo ngoài trời để phục vụ cho đề tài. Sự thống kê, phân loại này giúp có được những số liệu chính xác, làm tăng tính thuyết phục của cho đề tài.

  1. Bố cục của báo cáo thực tập

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Báo cáo gồm có 3 chương, cụ thể như sau:

  • Chương 1: Lý luận chung về quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời
  • Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động quảng cáo thuơng mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh
  • Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động quảng cáo thuơng mại ngoài trời trên địa bàn TP. Cam Ranh

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Cấp Phép Và Xử Lý Hành Vi Phạm Pháp Đối Với Quảng Cáo Ngoài Trời Tại TP Cam Ranh

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Cấp Phép Và Xử Lý Hành Vi Phạm Pháp Đối Với Quảng Cáo Ngoài Trời Tại TP Cam Ranh các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần viết thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

Pháp Luật Về Cơ Cấu Tổ Chức Quản Lý Của Công Ty TNHH Một Thành Viên

Đề tài báo cáo thực tập: PHÁP LUẬT VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

1.1. Lí do chọn đề tài nghiên cứu

Trong thời kỳ hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành xu thế chung của thời đại mà các quốc gia, dân tộc không thể nào bỏ qua được. Qúa trình toàn cầu hóa tác động mạnh mẽ đế nền kinh tế của các nước, đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khi nước ta ngày càng tham gia sâu rộng vào hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng chính vì lí do trên, hàng loạt doanh nghiệp được thành lập, nhưng các mô hình doanh nghiệp tại Việt Nam rất đa dạng, mỗi mô hình đều có ưu điểm và khuyết điểm riêng. Vì vậy, việc lựa chọn loại hình nào để phát triển doanh nghiệp ổn định, thuận tiện, có rất nhiều lý do khác nhau để quyết định lựa chọn một mô hình thành lập. Hiện nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn hiện đang là loại hình doanh nghiệp được ưu tiên lựa chọn nhất hiện nay với những ưu điểm về vốn và hình thức tổ chức công ty. Mô hình này rất thích hợp cho các công ty, doanh nghiệp các mô hình công ty con và các cá nhân tự xây dựng doanh nghiệp cho mình với cơ cấu tổ chức của mình, đặc biệt là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Đây là một loại hình doanh nghiệp mới được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Với tính chất gọn nhẹ về cơ cấu tổ chức và quản lý, hiện nay loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đã và đang thu hút một lượng lớn nhà đầu tư. Loại hình doanh nghiệp này ra đời đã đáp ứng lại sự kỳ vọng của các nhà kinh doanh cũng như các nhà nghiên cứu luật.

Chính vì lý do đó thôi thúc người viết muốn biết về cơ cấu tổ chức quản lý của loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên như thế nào mà lại là ưu điểm để nhiều doanh nghiệp lựa chọn hoạt động. Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật Doanh nghiệp về cơ cấu tổ chức quản lý Công ty trách nhiệm hữu hạn cũng được quan tâm một cách đáng kể. Nhằm tìm hiểu thêm về pháp luật và thực tiễn, người viết chọn đề tài Quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và thực tiễn áp dụng để làm báo cáo tốt nghiệp.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của người viết khi nghiên cứu đề này nhằm: (1) Trình bày những quy định của pháp xoay quanh đề tài về Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; (2) Tiếp cận những vấn đề thực tế, từ đó đối chiếu, so sánh để nhận thấy được nét tương đồng, sự khác biệt giữa thực tế và lý thuyết, giữa các mô hình khác nhau của Công ty trách nhiệm hữu hạn; (3) Thông qua những nội dung đó, người viết sẽ có những đề xuất hợp lý nhằm khắc phục những hạn chế đang mắc phải từ thực tiễn.

1.3. Phạm vi nghiên cứu

Công ty trách nhiệm một thành viên là một vấn đề còn rất mới mẽ trong xã hội Việt Nam những năm gần đây, được xã hội và cả nhà đầu tư rất quan tâm vào loại hình doanh nghiệp này, cho nên trong phạm vi nghiên cứu người viết sẽ tập trung nghiên cứu về Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong quá trình hoạt động. Người viết sẽ dựa trên cơ sở của Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 do Quốc Hội ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014, các văn bản pháp luật khác có liên quan, các trang web có nguồn tin chính thống và các văn bản tại nơi thực tập từ năm 2015 – 2018 nhằm làm rõ nội dung người viết nghiên cứu.

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ bài viết, người viết vận dụng những phương pháp nghiên cứu thích hợp nhằm đáp ứng yêu cầu của bài viết.

Phương pháp phân tích để làm rõ các quy định của pháp luật về vấn đề của đề tài.

Phương pháp thống kê nhằm thu thập những dữ liệu về cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty trách nhiệm hữu hạn.

Phương pháp so sánh giữa lý thuyết pháp luật và thực tiễn để đưa ra giải pháp tốt nhất.

Phương pháp tổng hợp nhằm hệ thống lại toàn bộ các nội dung đã phân tích và so sánh, cũng như trình bày vấn đề.

1.5. Kết cấu chuyên đề

Đề tài gồm 3 chương

  • Chương 1:Tổng quan về cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
  • Chương 2:Thực tiễn cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
  • Chương 3:Một số kiến nghị

Cách Làm Bài Báo Cáo Thực Tập: Pháp Luật Về Cơ Cấu Tổ Chức Quản Lý Của Công Ty TNHH Một Thành Viên

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Pháp Luật Về Cơ Cấu Tổ Chức Quản Lý Của Công Ty TNHH Một Thành Viên các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

 

Quy Định Của Pháp Luật Về Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Của Cha Mẹ Đối Với Con Khi Ly Hôn

Báo Cáo Thực Tập: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI CON KHI LY HÔN – THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TOÀ ĂN NHÂN DÂN QUẬN 3

  1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Những năm gần đây ,tình trạng ly hôn gia đình tan vỡ ngày một nhiều hơn. Gia đình ly tán, con cái là người gánh chịu những mất mát thiệt thòi cả về tinh thần lẫn vật chất, không nhận dược sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cả cha và mẹ. Vì vậy chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau vừa là quyền vừa là trách nhiệm của giữa các thành viên trong gia đình. Để đảm bảo cuộc sống bình thuường của con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì vấn đề cấp dưỡng sau hôn nhân là vô cùg hợp lý. Luật HN&GĐ ra đời đã góp phần tích cực và quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ bản như quy định về nguyên tắc giao con cho ai nuôi là vì quyền lợi mọi mặt của con; quy định về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con, quyền thăm nom con; quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi quyền lợi mọi mặt của con không được đảm bảo. Bên cạnh những tác dụng lớn lao mà nguyên tắc đem lại, trên thực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ nuôi dưỡng cũng có thể thực hiện được. Trong những hoàn cảnh nhất định, người có nghĩa vụ nuôi dưỡng có thể không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ cụ thể khi phải đi công tác, bệnh nặng kéo dài, phải chấp hành hình phạt tù, hay sau khi vợ chồng ly hôn việc chăm sóc nuôi dưỡng con sẽ thực hiện như thế nào đối với cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con và để đảm bảo cuộc sống bình thường của người được nuôi dưỡng, trong những trường hợp này, nghĩa vụ cấp dưỡng đã được đặt ra. Đặc biệt với thực trạng hiện nay là các mối quan hệ hôn nhân, gia đình đang xuống cấp về đạo đức một cách trầm trọng, thể hiện qua lối sống thực dụng, ích kỷ, không quan tâm đến nhau, mà gia đình là tập hợp đặc biệt gồm các thành viên gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Như vậy pháp luật về cấp dưỡng lại càng cần thiết nhằm đề cao trách nhiệm của các thành viên trong gia đình đối với nhau, nhằm bảo đảm sự ổn định, bền vững và hạnh phúc của gia đình – nền tảng của xã hội. Khi đó người có nghĩa vụ nuôi dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ của mình bằng cách đóng góp tiền hoặc tài sản khác để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của người được nuôi dưỡng. Việc nuôi dưỡng đã được thực hiện dưới một phương thức khác đó là nghĩa vụ cấp dưỡng. Qua đó góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về cấp dưỡng để đảm bảo quyền lợi của các bên.

Trong phạm vi quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình thì quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ đối với con sau khi ly hôn, việc không đảm bảo trẻ được hưởng đầy đủ vật chất và tinh thần đang gây nhiều hậu quả bất lợi trước mắt và lâu dài. Do giá trị đạo đức trong gia đình dần bị lãng quên và mai một, do trách nhiệm của các bậc làm cha làm mẹ không được ý thức sâu sắc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của trẻ em về thể chất và nhân cách. Với mong muốn góp phần tìm ra những giải pháp cho những quy định về vấn đề cấp dưỡng, đặc biệt là Quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn – thực tiễn áp dụng tại toà án nhân dân quận 3 . Trên cơ sở phân tích những điểm tồn tại, vướng mắc trong quá trình ban hành và áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị cụ thể.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

Trong bài Báo cáo thực tập này em lựa chọn nghiên cứu đề tài:Quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn – thực tiễn áp dụng tại toà án nhân dân quận 3 . Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về quan hệ cấp dưỡng ,đi sâu vào phân tích các trường hợp cấp dưỡng khi ly hôn . Đánh giá việc áp dụng pháp luật HN&GĐ trong nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con cái khi ly hôn nhằm chỉ ra những tồn tại, vướng mắc, sai sót nhất định. Qua đó mong muốn đưa ra những giải pháp và ý kiến nhằm hoàn thiện, đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác xét xử và quyền lợi chính đáng của vợ chồng , các con sau ly hôn.

  1. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề về quan hệ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đồng thời tìm hiểu sơ lược một số văn bản liên quan về nghĩa vụ cấp dưỡng, được nghiên cứu trong phạm vi sau đây:

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;

Và một số văn bản pháp luật có liên quan.

Về mặt thực tiễn: các thông tin và số liệu thực tiễn về giải quyết cấp dưỡng theo pháp luật được thu thập tại cơ quan thực tập của sinh viên thực hiện, cụ thể là Tòa án Nhân dân quận 3.

  1. Phương pháp nghiên cứu

Để có thể hoàn thiện bài báo cáo của mình, sinh viên thực hiện đã sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu, tìm hiểu các tài liệu, giáo trình, văn bản quy phạm pháp luật, các bài viết và nguồn thông tin có chọn lọc liên quan đến đề tài báo cáo của sinh viên thực hiện.

Phương pháp thu thập và phân tích số liệu: thu thập số liệu liên quan đến đề tài báo cáo có thể lấy được từ đơn vị thực tập, từ đó phân tích và so sánh đưa ra các kết quả đúc kết được trong bài báo cáo. Tổng hợp, thống kê, đồng thời nghiên cứu những báo cáo công tác xét xử của toà án, các bản án giải quyết vấn đề cấp dưỡng khi ly hôn , các bài viết tham luận về đề tài nghiên cứu.

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: lấy ý kiến trực tiếp của giảng viên hướng dẫn để có thể hoàn thiện về nội dung cũng như hình thức của đề tài.

  1. Kết cấu của chuyên đề

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

  • Tên đề tài
  • Lý do chọn đề tài nhiên cứu
  • Mục tiêu nghiên cứu
  • Phạm vi nghiên cứu
  • Phương pháp nghiên cứu
  • Kết cấu của chuyên đề

PHẦN 2: LÝ LUẬN

2.1 Khái quát chung về cấp dưỡng

2.1.1 Khái niệm cấp dưỡng

2.1.2 Đặc điểm của quan hệ cấp dưỡng

2.1.3 Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng

2.1.3.1 Người cấp dưỡng

2.1.3.2 Người được cấp dưỡng

2.2 Những quy định chung của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng

2.2.1 Mức cấp dưỡng

2.2.3 Phương thức thực hiện cấp dưỡng

2.2.3.1 Phương thức thực hiện cấp dưỡng định kì

2.2.3.2 Phương thức thực hiện cấp dưỡng một lần

2.2.3 Thời hạn cấp dưỡng

2.2.4 Người có quyền yêu cầu thực hiện cấp dưỡng

2.3 Những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

2.3.1 Thay đổi mức cấp dưỡng

2.3.2 Thay đổi phương thức cấp dưỡng

2.3.3 Tạm ngưng cấp dưỡng

2.4 Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

2.4.1 Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động

2.4.2 Người được cấp dưỡng có thu nhập và tài sản để tự nuôi mình

2.4.3 Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi

2.4.4 Người cấp dưỡng trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng

2.4.5 Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết

PHẨN 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG ĐỐI VỚI CON KHI LY HÔN TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

3.1 Tình hình xét xử các vụ án về cấp dưỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn tại tòa án nhân dân quận 3

3.2 Những bất cập trong áp dụng pháp luật vào giải quyết nghĩa vụ liên quan đến cấp dưỡng của cha mẹ với con khi ly hôn

PHẦN 4: GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ

PHẦN 5 : KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Giảng viên hướng dẫn đề nghị (nếu có)

  • Họ và tên Giảng viên hướng dẫn: Huỳnh Thị Kim Lan…………………………….
  • Điện thoại liên lạc: 0012.081……………………………………………………….
  • Email: lan.htk@ou.edu.vn ………………………………………………………………

                                                                                                                                                   Tp. HCM, ngày      tháng    năm 2019

                                                                                      SINH VIÊN THỰC HIỆN

                                                                                                (Ký, ghi rõ họ và tên)

Cách làm đề tài báo cáo thực tập: Quy Định Của Pháp Luật Về Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Của Cha Mẹ Đối Với Con Khi Ly Hôn

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu triển khai nội dung theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác với đề tài: Quy Định Của Pháp Luật Về Nghĩa Vụ Cấp Dưỡng Của Cha Mẹ Đối Với Con Khi Ly Hôn các bạn có thể liên hệ với mình nhé

Trên đây là một trong những đề tài mẫu báo cáo thực tập tốt nghiệp ngành Luậtđể tham khảo các đề cương khác các bạn tìm trên website vietbaocaothuctap.net của mình nhé.  Nếu bạn nào có nhu cầu cần làm thuê báo cáo thực tập có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973287149

 

Tiểu luận xử lý vi phạm hành chính là gì

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Ðây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm.
Với mục tiêu tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động hết sức quan trọng này, năm 1989, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh về xử phạt vi phạm hành chính và sau đó từng bước hoàn thiện qua bốn lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1995, 2002, 2007 và 2008. Cùng với các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính qua từng thời kỳ đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống vi phạm hành chính, yêu cầu dân chủ, công khai, minh bạch trong xử lý vi phạm hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm trật tự an toàn xã hội…
Tuy nhiên, qua hơn 20 năm thực hiện, hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với văn bản pháp lý cao nhất ở tầm Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải khẩn trương nghiên cứu, điều chỉnh, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Với mục tiêu hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này, qua đó tăng cường hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật, đồng thời thể chế hóa một trong những chủ trương xuyên suốt trong nhiều Nghị quyết của Ðảng về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20-6-2012. Kể từ ngày 1-7-2013, Luật bắt đầu có hiệu lực thi hành, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2014. Với bố cục gồm sáu phần, 12 chương và 142 điều, quy định về xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính với nhiều nội dung mới, tiến bộ, Luật Xử lý vi phạm hành chính đánh dấu bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật xử lý vi phạm hành chính nói riêng ở Việt Nam, đồng thời khẳng định một bước phát triển mới về cơ chế pháp lý trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta, được nhân dân và cộng đồng quốc tế hoan nghênh, đánh giá cao.
Tại phiên tòa, các kỹ năng của Luật sư được thể hiện rất rõ qua các thủ tục xét xử tại phiên tòa. Trong đó kỹ năng tranh luận của Luật sư có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc định tội danh cho bị cáo trong vụ án hình sự, cho việc xem xét tính hợp pháp, hợp lý của Quyết định hành chính trong Vụ án hành chính, việc giải quyết tranh chấp trong vụ án dân sự…
Chính vì vậy việc tìm hiểu về kỹ năng tranh luận của Luật sư tại phiên tòa Hành chính sơ thẩm có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Giúp thấy được vai trò của thủ tục này đồng thời định hướng được các công việc thực tế khi Luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình.
Trong phạm vi đề tài “Kỹ năng tranh luận của Luật sư tại phiên tòa hành chính sơ thẩm” người viết mới chỉ tham xem xét một cách khái quát nhất trên cơ sở tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đó và các kiến thức đã học nên không tránh khỏi những hạn chế nhất định.
luật sư phải giữ gìn phẩm giá và uy tín nghề nghiệp; trong hành nghề phải độc lập, trung thực và tận tụy; phải có cách ứng xử đúng mực và có văn hóa; phải tích cực thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo… Luật sư phải bảo vệ tốt nhất lợi ích của khách hàng, tích cực, khẩn trương giải quyết vụ việc của khách hàng; phải từ chối cung cấp dịch vụ pháp lý đối với yêu cầu vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội; phải giữ gìn bí mật cho khách hàng; không hứa hẹn trước kết quả… Luật sư phải có thái độ lịch sự và tôn trọng các cơ quan tố tụng và các cơ quan nhà nước; không móc nối, lôi kéo họ vào việc làm trái pháp luật; không cung cấp chứng cứ sai sự thật… Luật sư phải tôn trọng và hợp tác với thái độ thân ái, giúp đỡ đồng nghiệp; không xúc phạm hoặc hạ thấp uy tín đồng nghiệp…
Thứ nhất, Luật Xử lý vi phạm hành chính đáp ứng yêu cầu “thể chế hóa kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Ðảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân…”. Ðây là chủ trương lớn xuyên suốt trong nhiều nghị quyết về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Ðiều đó đòi hỏi Nhà nước ta cần phải quy phạm hóa các quyền tự do dân chủ, quyền con người bằng các quy định của một đạo luật; trong khi đó xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính là một trong những loại trách nhiệm pháp lý, trực tiếp liên quan đến quyền cơ bản của con người, quyền công dân, liên quan đến lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, theo quy định của Hiến pháp, phải được quy định bằng văn bản luật. Luật Xử lý vi phạm hành chính là thí dụ thể hiện đầy đủ và đậm nét chủ trương này.
Thứ hai, Luật Xử lý vi phạm hành chính thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính phù hợp với định hướng của Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trên tinh thần quán triệt quan điểm thực hiện “đơn giản hóa và công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân và doanh nghiệp”. Các quy định cụ thể trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, điển hình là các quy định về trình tự thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, các quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, các quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng và thi hành các biện pháp xử lý hành chính… được quy định theo tinh thần bảo đảm tính công khai, minh bạch nhưng rất chặt chẽ, rõ ràng, hiệu quả, để thật sự thuận lợi, dễ dàng cho người dân chấp hành pháp luật và lực lượng chức năng thực thi công vụ trong thực tiễn.
Thứ ba, Luật Xử lý vi phạm hành chính góp phần thực hiện một trong những chủ trương lớn của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị BCHTW Ðảng về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, đó là “hình thành cơ chế pháp lý để Chính phủ thực hiện quyền yêu cầu xem xét, xử lý bằng thủ tục tư pháp đối với mọi vi phạm nghiêm trọng được phát hiện trong quá trình quản lý, tổ chức thi hành pháp luật”, “tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng của công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án”. Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa vào cơ sở giáo dục) sang cơ quan tư pháp là một cải cách thật sự lớn và có ý nghĩa sâu sắc dưới giác độ bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thể hiện xu hướng tiến bộ, dân chủ, thực hiện đúng tinh thần “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người” đã được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW nêu trên. Các quy định về các biện pháp xử lý hành chính của Luật Xử lý vi phạm hành chính đã thể hiện rõ quan điểm có nhiều điểm tiến bộ vượt bậc so với quy định của các Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây.
Thứ tư, Luật Xử lý vi phạm hành chính bỏ quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm. Việc này thể hiện sự đổi mới trong thái độ đối xử đối với người bán dâm phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới và tính chất của hiện tượng xã hội này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là người bán dâm không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, song vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật. Bên cạnh đó, để hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực từ việc không đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, Chính phủ, các địa phương thông qua các giải pháp kinh tế – xã hội cần tăng cường thực hiện các chính sách, các chương trình quốc gia về dạy nghề, vay vốn, tạo công ăn việc làm nhằm quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡ những người bán dâm để họ có công ăn việc làm, thu nhập ổn định, hòa nhập cộng đồng; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; tăng cường thực hiện mạnh mẽ hơn các chương trình phòng, chống HIV/AIDS và chống các bệnh lây lan qua đường tình dục, trong đó có việc chữa bệnh cho những người mắc bệnh mà pháp luật quy định.
Thứ năm, Luật cũng dành một phần riêng để quy định về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính và quy định về các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (bao gồm nhắc nhở, quản lý tại gia đình); điều kiện, thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp thay thế. Ðây là một nội dung mới, tiến bộ, thể hiện chính sách nhất quán của Ðảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến đối tượng người chưa thành niên nói chung, người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng, nâng cao một bước phát triển về thể chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Luật Xử lý vi phạm hành chính (Ðiều 17) đã quy định toàn diện, đầy đủ nội dung về vấn đề theo dõi, quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trên tinh thần đổi mới cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thật sự của công tác quản lý thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính mà các Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính trước đây chưa quy định. Ðây cũng là nhân tố quan trọng bảo đảm thực thi pháp luật xử lý vi phạm hành chính nghiêm túc, thống nhất, chính xác, hiệu quả, bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đã được Hiến pháp quy định trong xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Chính phủ “thống nhất quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước”. Bộ Tư pháp là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại khoản 2 của Ðiều 17 nói trên. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các khoản còn lại của Ðiều 17 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Từ ngày 1/7, Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành với nhiều điểm mới, liên quan trực tiếp đến đời sống của cá nhân, tổ chức, các hoạt động sản xuất, kinh doanh nên được toàn xã hội hết sức quan tâm.
Bà Nguyễn Thị Kim Thoa, Vụ trưởng Vụ Pháp luật Hình sự – Hành chính (Bộ Tư pháp) đã dành cho PV Báo Điện tử Chính phủ cuộc trao đổi về vấn đề này.
Về những điểm mới cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) so với pháp luật hiện hành, bà Nguyễn Thị Kim Thoa cho biết nếu xem xét một cách chi tiết, cụ thể thì Luật có rất nhiều điểm mới. Ở đây chỉ xin nêu 5 điểm mới cơ bản:
Trước hết là việc chuyển thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ Chủ tịch UBND sang TAND. Đây là nội dung thay đổi rất lớn so với Pháp lệnh XLVPHC, phù hợp với xu hướng tiến bộ, dân chủ hiện nay. Việc giao Toà án quyết định áp dụng các biện pháp XLHC nêu trên theo thủ tục tư pháp sẽ tạo điều kiện cho đương sự, luật sư, người bào chữa được tham dự để bảo vệ quyền lợi của đương sự, bảo đảm dân chủ, khách quan, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.
Hai là, không đưa đối tượng là người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh. Trước đây, với việc coi người bán dâm là không phù hợp với các chuẩn mực xã hội về con người mới xã hội chủ nghĩa, cần phải được giáo dục, cải tạo chặt chẽ. Họ được đưa vào các cơ sở với tên gọi như “Trường phục hồi nhân phẩm” hoặc “Trung tâm phục hồi nhân phẩm”.
Tuy nhiên, quy định mới là người bán dâm không bị đưa vào cơ sở chữa bệnh, song vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật.
Ba là, quy định chặt chẽ điều kiện áp dụng một số biện pháp ngăn chặn liên quan đến nhân thân, quyền và lợi ích người dân, như tạm giữ người, tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Mục đích của việc quy định chặt chẽ điều kiện áp dụng các biện pháp này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn, tránh việc lạm dụng các biện pháp có thể gây xáo trộn lớn trong sinh hoạt, kinh doanh của họ.
Ví dụ để hạn chế đến mức tối đa việc lạm dụng biện pháp tạm giữ phương tiện như ô tô, xe máy, Điều 125 của Luật quy định rõ chỉ được áp dụng trong 3 trường hợp sau: thứ nhất, để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt; thứ hai, để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội; thứ ba, để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt, nhưng người vi phạm không có giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện.
Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ trong trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Luật XLVPHC quy định mới về quyền giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm và trách nhiệm của cơ quan tiến hành xử phạt phải xem xét ý kiến giải trình của người vi phạm, phải tiến hành xác minh hành vi đối tượng vi phạm trước khi ra quyết định xử phạt; tạo cơ chế để người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có cơ hội bảo vệ quyền và lợi ích của mình thông qua quyền tự mình hoặc nhờ người đại diện/luật sư tiếp xúc hồ sơ…
Năm là, bổ sung quy định mới bảo đảm hơn nữa quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Luật XLVPHC dành Phần thứ năm quy định về các nguyên tắc xử lý mới, đặc thù chỉ đạo toàn bộ hoạt động xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, như: xử lý chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội; bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên; áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn; tôn trọng và bảo vệ bí mật riêng tư của người chưa thành niên… Bên cạnh đó, Luật XLVPHC quy định 2 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính là nhắc nhở và quản lý tại gia đình. Các biện pháp này mang tính xã hội để quản lý đối tượng tại gia đình và cộng đồng, người bị áp dụng các biện pháp này không bị coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Bên cạnh những mặt tích cực trong thực tiễn hoạt động thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay thì trong thực tế vẫn còn tồn đọng một số hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật. Mặc dù có sự chỉ đạo của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, đường lối chính trị đúng đắn của nhà nước, tuy nhiên, trong xã hội vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ thực hiện pháp luật trái với quy định nhà nước, có thể gọi là vi phạm pháp luật và tội phạm. Điều này cho thấy ý thức pháp luật của những bộ phận này chưa cao, kém hiểu biết và ảnh hưởng xấu tới sự ổn định và trật tự xã hội.

Xem thêm:Mục đích của việc viết báo cáo thực tập là gì?

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

Đề cương báo cáo thực tập: kế toán xác định kết quả kinh doanh, HAY!

Đề tài báo cáo thực tập: KẾ TOÁN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH KẾ TOÁN VÀ TƯ VẤN SAO VÀNG

Nhận xét của đơn vị thực tập
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Mở đầu

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về công ty TNHH Kế Toán Và Tư Vấn Sao Vàng

1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty
1.1.1.Giới thiệu sơ lược về Công Ty TNHH Kế Toán Và Tư Vấn Sao Vàng
1.1.2.Lĩnh vưc ngành nghề kinh doanh và quy mô của Công Ty TNHH Kế Toán Và Tư Vấn Sao Vàng
1.2 Chức năng và nhiệm vụ
1.2.1 Chức năng
1.2.2 Nhiệm vụ
1.3 Đặc điểm hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
1.3.1 Quy mô kinh doanh
1.3.2 Mạng lưới kinh doanh
1.3.3 Đặc điểm của ngành
1.4 Tổ chức bộ máy quản lý công ty
1.4.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty
1.4.2 Phân công lao động trong bộ máy quản lý
1.5 Tổ chức kế toán tại công ty
1.5.1 Hình thức kế toán
1.5.2 Hệ thống tài khoản được áp dụng tại công ty
1.5.3 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
1.6 Những thuận lợi và khó khăn của công ty
1.6.1 Thuận lợi
1.6.2 Khó khăn
Chương2: Cơ sở lý luận về kế toán xác định kết quả kinh doanh (Chi tiết thêm các tiêu đề cấp 2)
2.1.Những vấn đề chung về kế toán xác định kết quả kinh doanh
2.1.1.Khái niệm
2.1.2.Vai trò kế toán xác định kết quả kinh doanh
2.1.3.Nội dung và phương pháp xác định kết quả kinh doanh
2.2 .Kế toán Doanh thu bán hang và cung cấp dịch vụ
2.2.1.Khái niệm
2.2.2.Nguyên tắc hạch toán và điều kiện ghi nhận
2.2.3.Chứng từ sử dụng
2.2.4.Tài khoản sử dụng
2.2.5.Kết cấu tài khoản
2.2.6.Sơ đồ hạch toán
2.3. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
2.3.1.Khái niệm
2.3.2.Nguyên tắc hạch toán
2.3.3.Chứng từ sử dụng
2.3.4.Tài khoản sử dụng
2.3.5.Kết cấu tài khoản
2.3.6.Sơ đồ hạch toán
2.4. Kế toán Giá vốn hàng bán
2.4.1.Khái niệm
2.4.2.Nguyên tắc hạch toán
2.4.3.Chứng từ sử dụng
2.4.4.Tài khoản sử dụng
2.4.5.Kết cấu tài khoản
2.4.6.Sơ đồ hạch toán
2.5. Kế toán Chi phí bán hang
2.5.1.Khái niệm
2.5.2.Nguyên tắc hạch toán
2.5.3.Chứng từ sử dụng
2.5.4.Tài khoản sử dụng
2.5.5.Kết cấu tài khoản
2.5.6.Sơ đồ hạch toán
2.6. Kế toán Chi phí quản lý doanh nghiệp
2.6.1.Khái niệm
2.6.2.Nguyên tắc hạch toán
2.6.3.Chứng từ sử dụng
2.6.4.Tài khoản sử dụng
2.6.5.Kết cấu tài khoản
2.6.6.Sơ đồ hạch toán
2.7. Kế toán doanh thu hoạt động tài chính
2.7.1.Khái niệm
2.7.2.Nguyên tắc hạch toán
2.7.3.Chứng từ sử dụng
2.7.4.Tài khoản sử dụng
2.7.5.Kết cấu tài khoản
2.7.6.Sơ đồ hạch toán
2.8.Kế toán Chi phí tài chính
2.8.1.Khái niệm
2.8.2.Nguyên tắc hạch toán
2.8.3.Chứng từ sử dụng
2.8.4.Tài khoản sử dụng
2.8.5.Kết cấu tài khoản
2.8.6.Sơ đồ hạch toán
2.9. Kế toán thu nhập khác
2.9.1.Khái niệm
2.9.2.Nguyên tắc hạch toán
2.9.3.Chứng từ sử dụng
2.9.4.Tài khoản sử dụng
2.9.5.Kết cấu tài khoản
2.9.6.Sơ đồ hạch toán
2.10.Kế toán Chi phí khác
2.10.1.Khái niệm
2.10.2.Nguyên tắc hạch toán
2.10.3.Chứng từ sử dụng
2.10.4.Tài khoản sử dụng
2.10.5.Kết cấu tài khoản
2.10.6.Sơ đồ hạch toán
2.11. Kế toán chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
2.11.1.Khái niệm
2.11.2.Nguyên tắc hạch toán
2.11.3.Chứng từ sử dụng
2.11.4.Tài khoản sử dụng
2.11.5.Kết cấu tài khoản
2.11.6.Sơ đồ hạch toán
2.12. Kế toán xác định kết quả kinh doanh
2.12.1.Khái niệm
2.12.2.Nguyên tắc hạch toán
2.12.3.Tài khoản sử dụng
2.12.4.Kết cấu tài khoản
2.12.5.Sơ đồ hạch toán

Xem thêm:

Chương3: Thực trạng về kế toán xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Kế Toán Và Tư Vấn Sao Vàng
3.1 Kế toán Doanh thu bán hàng
3.1.1.Tài khoản sử dụng
3.1.2.Chứng từ sử dụng:
3.1.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.1.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.1.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.2. Kế toán các khoản giảm trừ
3.2.1.Tài khoản sử dụng
3.2.2.Chứng từ sử dụng:
3.2.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.2.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.2.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.3.. Kế toán Giá vốn hàng bán
3.3.1.Tài khoản sử dụng
3.3.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.3.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.3.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.3.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.4. Kế toán Chi phí bán hàng
3.4.1.Tài khoản sử dụng
3.4.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.4.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.4.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.4.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.5. Kế toán Chi phí quàn lý doanh nghiệp
3.5.1.Tài khoản sử dụng
3.5.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.5.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.5.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.5.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.6. Kế toán doanh thu hoạt động tài chính
3.6.1.Tài khoản sử dụng
3.6.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.6.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.6.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.6.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.7.Kế toán Chi phí tài chính
3.7.1.Tài khoản sử dụng
3.7.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.7.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.7.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.7.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.8. Kế toán thu nhập khác
3.8.1.Tài khoản sử dụng
3.8.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.8.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.8.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.8.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.9.Kế toán Chi phí khác
3.9.1.Tài khoản sử dụng
3.9.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.9.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.9.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.9.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.10. Kế toán chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
3.10.1.Tài khoản sử dụng
3.10.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.10.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.10.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.10.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
3.11. Kế toán xác định kết quả kinh doanh
3.11.1.Tài khoản sử dụng
3.11.2.Chứng từ sử dụng:(Mẫu)
3.11.3.Sổ sách kế toán:
+ Sổ chi tiết: (Mẫu)
+ Sổ tổng hợp: (Mẫu)
3.11.4.Trình tự ghi sổ:(Lời văn)
3.11.5. Sơ đồ minh họa trình tự ghi sổ
– Sơ đồ tài khoản
– Ví dụ minh họa
Chương 4: Nhận Xét Và Kiến Nghị
4.1. Nhận xét chung về tổ chức công tác kế toán xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH Kế Toán Và Tư Vấn Sao Vàng
4.1.1 Ưu điểm
4.1.2 Nhược điểm
4.2. Kiến nghị
4.2.1.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại doanh nghiệp
4.2.2. Một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và công tác quản lý tại doanh nghiệp
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149

TOP 10 đề tài Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trách nhiệm Xã Hội

Tùy theo năng lực, sở thích của cá nhân, mỗi sinh viên có thể lựa chọn đề tài có liên quan thuộc lĩnh vực TNXH của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động.

3.2. Về nội dung:

– Bài chuyên đề phải nêu rõ lý do chọn, mục tiêu nghiên cứu.
– Trình bày các khái niệm, bộ tiêu chuẩn nghiên cứu
– Phân tích một cách cụ thể hiện trạng của việc thực thi các bộ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội về lao động tại tổ chức, địa bàn nghiên cứu. Chứng minh làm sáng tỏ việc thực thi các bộ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội về lao động bằng dữ liệu, số liệu thực tế;
– Qua phân tích thực trạng có thể rút ra các điểm mạnh, điểm yếu, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoặc giải pháp cụ thể để giải quyết những tồn tại trong việc thực hiện các bộ tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội về lao động và thúc đẩy các doanh nghiệp có thể thực hiện được hoặc thực hiện tốt hơn các bộ tiêu chuẩn về lao động pháp hoặc các qui định của pháp luật lao động Việt Nam.
3.3. Về vấn đề đạo văn:
NGHIÊM CẤM sinh viên chép bài của người khác. Trong khi viết bài, sinh viên có thể tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, sinh viên không được phép chép bài của người khác mà không có trích dẫn đầy đủ về tên tác giả, tên tài liệu tham khảo, … theo quy định về mặt học thuật. Nếu phát hiện chuyên đề có sự sao chép sẽ bị trừ từ 50% đến 100% số điểm đạt được tùy theo mức độ vi phạm

II. LỰA CHỌN CHỦ ĐỀ CỦA CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU TRÁNH NHIỆM XÃ HỘI

Tùy theo năng lực, sở thích của cá nhân, mỗi sinh viên có thể lựa chọn đề tài có liên quan thuộc lĩnh vực TNXH của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động.
Những chủ đề gợi ý:
1. Thực trạng áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH về (LĐTE,LĐ nữ, AT-VSLĐ, Kỷ luật lao động, TƯLĐTT, Phân biệt đối xử, Tiền lương, Lao động cưỡng bức… ) tại….
2. Đánh giá thực trạng áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động (SA 8000, WRAP, BSCI, OHSAS 18001,…) tại….
3. Một số kinh nghiệm áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động… tại ….
4. Một số khó khăn (bất cập) khi áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động… tại….
5. Đánh giá khả năng áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động… tại….
6. Quá trình tiếp cận, xây dựng và áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH về lao động… tại …
7. Thực trạng áp dụng tiêu chuẩn TNXH về lao động… trong ngành (dệt,may, da, giày, …) tại (Tỉnh, thành phố …)
8. Tình hình thực hiện bộ tiêu chuẩn SA 8000 (Wrap, BSCI, ….) tại Tỉnh, Thành phố…….
9. Phân tích thực trạng lợi ích và khó khăn của doanh nghiệp ………… khi áp dụng bộ tiêu chuẩn TNXH trong lao động.
10. Ngoài các đề tài gợi ý trên, SV được tự chọn đề tài nghiên cứu khác
Lưu ý: phạm vi về không gian của chuyên đề là từ cấp tỉnh trở xuống.

III. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

Khoa quy định mỗi bài chuyên đề chuyên sâu bao gồm những phần theo trình tự sau đây:
Phần Mở đầu (phần này tối đa 1 trang)
• Lý do chọn đề tài nghiên cứu.
Phần Nội dung
CHƯƠNG 1 (2- 4 trang)
<TÊN CHƯƠNG 1 >
[VD: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TNXH CỦA DN TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG ]
1.1. …………………………..
1.1.1. ……………………….
1.1.2. ……………………….
1.2. ………………………….
1.2.1………………………………..
1.2.2……………………….
Trình bày các khái niệm, quan điểm khoa học về TNXH về <vấn đề đang nghiên cứu> dựa trên tài liệu thu thập từ sách, báo, tài liệu, tạp chí khoa học ….
CHƯƠNG 2 (12- 14 trang)
<TÊN CHƯƠNG 2>
[VD: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BỘ TIÊU CHUẨN SA 8000 VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TẠI CÔNG TY ABC]
2.1. …………………………..
2.1.1. ……………………….
2.1.2. ……………………….
2.2. ………………………….
2.2.1………….
2.2.2. ………..
SV phải trình bày các nội dung sau:
• Khái quát về công ty liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu (qui định tối đa 2
trang- nếu có), các nội dung cơ bản:
– Tên công ty, địa chỉ, điện thoại, ngày thành lập, tổng số lao động.
– Lĩnh vực kinh doanh và kết quả kinh doanh.
– Đã áp dụng các loại chứng chỉ nào (WRAP, SA8000, ISO,…)
• Trình bày (hoặc so sánh) và phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu, phải có số liệu minh chứng để làm rõ vấn đề phân tích
• Đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu (thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân)
CHƯƠNG 3 (2- 4 trang)
<TÊN CHƯƠNG 3>
[VD: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VIỆC THỰC HIỆN TNXH VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TẠI CÔNG TY ABC]
3.1. …………………………..
3.1.1. ……………………….
3.1.2. ……………………….
3.2. ………………………….
3.2.1. ………………………………..
3.2.2………………….
• SV đề xuất giải pháp (hoặc khuyến nghị) nhằm khắc phục các hạn chế, tồn tại ở phần thực trạng, hoặc tạo điều kiện để DN thực hiện tốt TNXH về <vấn đề nghiên cứu>, hoặc rút ra các bài học kinh nghiệm từ <vấn đề nghiên cứu>
• SV không đưa ra các giải pháp hoặc khuyến nghị, ý kiến, bài học kinh nghiệm chung chung mà “bắt buộc“ phải cụ thể và liên quan đến các mặt hạn chế, tồn tại ở phần thực trạng của <vấn đề nghiên cứu>.
Phần Kết luận (tối đa 1 trang)
Có thể viết kết luận đóng lại vấn đề (tóm tắt những gì chuyên đề đã làm được)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sinh viên liệt kê các tài liệu tham khảo đã sử dụng để làm bài (bắt buộc phải có) ko có trừ 50% số điểm.

IV. CÁCH TRÌNH BÀY CHUYÊN ĐỀ
Bài chuyên đề cuối cùng được sắp xếp theo thứ tự sau:
1. Trang bìa chính (Xem mẫu cuối tài liệu này)
2. Trang “Danh mục các từ viết tắt” (nếu có)
3. Trang “Mục lục” (làm mục lục tự động)
4. Phần mở đầu (trang riêng)
5. Phần nội dung của chuyên đề chuyên sâu (sang chương mới sang trang mới)
6. Phần kết luận (trang riêng)
7. Tài liệu tham khảo (trang riêng)
8. Phụ lục (nếu có)

LƯU Ý
1. Chuyên đề phải trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, sạch sẽ, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị. Chuyên đề in 2 mặt, phải được đóng thành quyển.
2. Trang bìa chính: in trên giấy bìa cứng, đóng gáy kim (không làm gáy lò xo) Không có giấy kiếng bên ngoài, không đánh số thứ tự ở trang bìa.
3. Mục lục: nên trình bày trong giới hạn khoảng 1 trang với 3 cấp
4. Phần phụ lục: ghi các nội dung có liên quan đến đề tài nghiên cứu hoặc các tài liệu gốc được dùng để làm đề tài nghiên cứu. Nếu có nhiều hơn 2 phụ lục thì các phụ lục phải được phân biệt bằng số (Phụ lục 1, Phụ lục 2 …) hoặc bằng chữ cái (Phụ lục A, Phụ lục B, …) và phải có tên.

Xem thêm: Các vị trí thực tập tốt nhất trong công ty dành cho sinh viên du lịch

Trên đây là một số nội dụng mình làm sơ lược để cho các bạn có thể tham khảo nếu bạn nào có nhu cầu thuê người viết báo cáo thực tập theo đề cương trên hoặc là theo một đề cương khác các bạn có thể liên hệ với mình qua sđt/Zalo: 0973 287 149