Cơ sở lý luận về quyền trưng cầu dân ý

Rate this post

Download miễn phí mẫu cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận về quyền trưng cầu dân ý dành cho các bạn sinh viên đang làm báo cáo tốt nghiệp, mẫu cơ sở lý luận về Cơ sở lý luận về quyền trưng cầu dân ý được kham khảo từ báo cáo tốt nghiệp đạt điểm cao hy vọng giúp cho các bạn khóa sau có thêm tài liệu hay để làm bài báo cáo thực tập của mình 

Các bạn sinh viên đang gặp khó khăn trong quá trình làm báo cáo thực tập, chuyên đề tốt nghiệp , nếu cần sự hỗ trợ dịch vụ viết bài trọn gói , chất lượng các bạn liên hệ qua SDT/Zalo :0973287149


1. Khái quát chung về quyền trưng cầu dân ý

1.1. Khái niệm về quyền trưng cầu dân ý

Quyền trưng cầu dân ý là một thuật ngữ pháp lý tuy không phải là mới mẻ ở nước ta, nhưng do ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu giản đơn, chưa thống nhất, thậm chí rất khác nhau. Trong nhiều trường hợp đã sử dụng thuật ngữ này một cách quá dễ dãi, thiếu chuẩn xác, chẳng hạn như gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến nhân dân là quyền trưng cầu dân ý, coi việc điều tra dư luận xã hội là quyền trưng cầu dân ý, thậm chí một số doanh nghiệp tổ chức các cuộc thi sáng tác biểu trưng cho doanh nghiệp mình cũng gọi là quyền trưng cầu dân ý v.v… Vì vậy, để đi sâu nghiên cứu, đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền trưng cầu dân ý trước hết cần phải làm rõ nội hàm của thuật ngữ này.

Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quyền trưng cầu dân ý. Có quan niệm cho rằng, “trưng cầu dân ý” hay “quyền trưng cầu dân ý” (Referendum/plebiscite/Référendum) là “một hoạt động do nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định hoặc bày tỏ ý kiến về những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia”[1]. Hoặc theo Từ điển Pháp – Việt, pháp luật – hành chính thì “quyền trưng cầu dân ý” (Référendum) là “một hình thức tổ chức và hoạt động của nền dân chủ nửa trực tiếp, qua đó dân cộng tác và tham gia vào quyền lập pháp. Lấy ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nước, như thông qua Hiến pháp, một đạo luật, quyết định một chính sách, hoặc yêu cầu Quốc hội biểu quyết một dự án luật do nhân dân có sáng kiến đề nghị…”[2].

Cội nguồn lịch sử ra đời của thuật ngữ “quyền trưng cầu dân ý” (Referendum) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và được hiểu là sự bỏ phiếu của cử tri nhằm mục đích thông qua các quyết định có tính chất quốc gia hay địa phương. Trong tiếng Anh, quyền trưng cầu dân ý (Referendum) là việc đưa một văn bản của cơ quan lập pháp, một đề nghị sửa đổi Hiến pháp hay một vấn đề quan trọng của quốc gia để toàn dân quyết định dưới hình thức bỏ phiếu[3]. Trong tiếng Pháp, quyền trưng cầu dân ý (Référendum) là thủ tục cho phép công dân của một quốc gia bày tỏ sự tán thành hay bác bỏ một biện pháp (giải pháp) do cơ quan nhà nước đưa ra thông qua hình thức bỏ phiếu[4].

Ở nước ta hiên nay, theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh tái bản lần thứ 13, Nguyễn Như Ý chủ biên thì Trưng cầu được hiểu là “đưa ra hỏi ý kiến của số đông một cách có tổ chức để thêm căn cứ khi đưa ra quyết định vấn đề gì”; Trưng cầu dân ý là “hỏi ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định”[5]. Định nghĩa này cũng tương đương định nghĩa của Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản từ điển Bách khoa phát hành thì Trưng cầu dân ý là “cuộc hỏi ý kiến của toàn thể dân chúng về một vấn đề chính trị hay pháp luật bằng cách tổ chức bỏ thăm”[6].

Xem Thêm ==> Viết chuyên đề thực tập giá rẻ 

Ở Việt Nam thuật ngữ trưng cầu dân ý tuy không phải mới mẻ, nhưng do ít được đề cập, bàn luận nên trên thực tế còn có những cách hiểu chưa thống nhất, thậm chí rất khác nhau. Chẳng hạn như gọi việc công bố dự thảo Hiến pháp hay một dự án luật để lấy ý kiến nhân dân là trưng cầu dân ý; nhầm tưởng việc điều tra xã hội học là trưng cầu dân ý…Do đó, tại Luật trưng cầu ý dân đã đưa ra khái niệm: Quyền trưng cầu dân ý là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của Luật này.[7]

Quyền: Khái niệm này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuy nhiên dưới góc độ giải thích quyền làm mẹ thì quyền được hiểu theo nghĩa là: “Điều mà tự nhiên, luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, thực hiện… và, khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại” [8].

Trên cơ sở đó thì tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm về Quyền trưng cầu dân ý là thuật ngữ dùng để chỉ quyền của người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước trong từng thời điểm cụ thể.

1.2. Đặc điểm của quyền trưng cầu dân ý

Từ khái niệm về quyền trưng cầu dân ý nêu trên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của quyền trưng cầu dân ý như sau:

Thứ nhất, bản chất của quyền trưng cầu dân ý là một hình thức dân chủ trực tiếp, với hình thức này nhân dân trực tiếp tham gia vào quá trình quyết định một số công việc của Nhà nước theo một trình tự, thủ tục pháp lý nhất định.

Thứ hai, về mặt chủ thể, trưng cầu dân ý luôn có hai loại chủ thể cơ bản: một bên là Nhà nước mà đại diện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức cuộc quyền trưng cầu dân ý; còn một bên là nhân dân. Nhà nước đóng vai trò là chủ thể tổ chức cuộc quyền trưng cầu dân ý. Bất kỳ một cuộc quyền trưng cầu dân ý nào cũng đều do Nhà nước tổ chức và thực hiện nhân danh Nhà nước mà đại diện cụ thể là một cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cho dù đó là cuộc quyền trưng cầu dân ý toàn quốc hay là quyền trưng cầu dân ý ở một địa phương.

Thứ ba, phạm vi vấn đề đưa ra quyền trưng cầu dân ý bao giờ cũng là những vấn đề hệ trọng của quốc gia hoặc của địa phương. Về những vấn đề cụ thể được đưa ra quyền trưng cầu dân ý ở các nước khác nhau có quy định khác nhau, nhưng đều có điểm chung là những vấn đề có tính chất hệ trọng đối với quốc gia. Bởi vì, không bao giờ và không thể bất cứ việc gì của Nhà nước cũng có thể đưa ra quyền trưng cầu dân ý. Những vấn đề cần phải đưa ra trưng cầu dân ý có thể được quy định cụ thể trong Hiến pháp hoặc trong quy định bắt buộc quy  thẩm quyền phải tổ chức trưng cầu dân ý.

Thứ tư, cơ sở pháp lý của quyền trưng cầu dân ý bao giờ cũng là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Do tính chất quan trọng của vấn đề nên nhìn chung ở hầu hết các nước, quyền trưng cầu dân ý đều được quy định trong Hiến pháp và là một chế định pháp lý mang tính hiến định.

Thứ năm, cách thức thực hiện quyền trưng cầu dân ý phải bằng hình thức bỏ phiếu. Trưng cầu dân ý thường được tiến hành một cách độc lập, riêng rẽ với các hoạt động khác. Nhưng ở một số nước, trong một số trường hợp, do vấn đề đưa ra quyền trưng cầu dân ý gắn liền với chính sách của các chính đảng tham gia tranh cử nên cuộc quyền trưng cầu dân ý được tổ chức kết hợp cùng với cuộc bầu cử Quốc hội hoặc bầu cử. Việc kết hợp này cũng là một biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí cho ngân sách quốc gia. Tuy nhiên, cho dù được tổ chức riêng hay kết hợp cùng với cuộc bầu cử thì cách thức trưng cầu dân ý cũng tương tự như bầu cử, tức là được thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu.

1.3. Ý nghĩa và vai trò của quyền trưng cầu dân ý

Trưng cầu dân ý nói chung thực hiện quyền trưng cầu dân ý nói riêng là một hình thức dân chủ tiến bộ được sử dụng nhiều trong các quốc gia hiện đại, không ít quốc gia xem sự tồn tại của nó như là minh chứng cho nền dân chủ của mình. Bất kỳ một quốc gia nào cho dù có chế độ chính trị khác nhau cũng tuyên bố rằng mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; tuy nhiên việc nhân dân trực tiếp quyết định đối với tất cả công việc của Nhà nước là điều không thể. Chính vì vậy, ở các quốc gia đều hình thành nên các thiết chế để thực hiện có hiệu quả trong thực tế.  Điều này đã được thể hiện rõ trong Hiến pháp nói chung và thực hiện quyền của nhân dân đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Vì vậy, với hình thức thực hiện quyền thực hiện quyền trưng cầu dân ý đã cho phép người dân mặc dù không tham gia vào tất cả mọi công việc của Nhà nước, nhưng đối với một số vấn đề quan trọng thì buộc Nhà nước phải hỏi ý kiến nhân dân và ý kiến của nhân dân là ý kiến quyết định. Như vậy, có thể khẳng định rằng, sự tồn tại của hình thức thực hiện quyền trưng cầu dân ý đã bổ khuyết cho những điểm chưa hoàn thiện của của nền dân chủ đại diện, khiến cho những quyết định quan trọng của chính quyền luôn phù hợp và phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Bên cạnh đó, thông qua thực hiện quyền trưng cầu dân ý, cũng góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị của người dân, tạo thói quen cho họ phát biểu chính kiến của mình về các vấn đề chung của đất nước, của cộng đồng; đồng thời, đây cũng là bước chuẩn bị, tạo sự sẵn sàng cho người dân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả của pháp luật.

Tuy nhiên, hình thức thực hiện quyền trưng cầu dân ý cũng có những điểm hạn chế riêng của nó là làm kéo dài thời gian cơ quan nhà nước ban hành quyết định, trong một số trường hợp làm giảm đi tính thời sự, tính cấp thiết của việc xây dựng và áp dụng chính sách. Đồng thời, cũng phải thấy rằng, không phải bao giờ thực hiện quyền trưng cầu dân ý cũng là phương thuốc nhiệm màu có thể giải quyết được mọi vấn đề; trong trường hợp cử tri bị thao túng hoặc phải chịu sức ép thì kết quả của cuộc thực hiện quyền trưng cầu dân ý sẽ khó có thể phản ánh đúng ý chí của cử tri trong quá trình ban hành các quyết định đối với một vấn đề nào đó đối với hoạt động quản lý nhà nước nói chung trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thực tế.

2. Nội dung quyền trưng cầu dân ý ở nước ta hiện nay

2.1. Hệ thống quy định quyền trưng cầu dân ý ở nước ta

Vấn đề thực hiện quyền trưng cầu dân ý hiện nay đã và đang trở thành vẫn đề được các quốc trong khu vực và trên thế giới quan tâm, chú trọng. Hiện nay, hầu hết quốc gia trên thế giới đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này

Đối với vấn đề Thực hiện quyền trưng cầu dân ý ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền và toàn xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn.

Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 – luật cơ bản của nhà nước có giá trị pháp lý cao nhất quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29), Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân (Điều 70) và Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội (Điều 74)..

Cùng với Hiến pháp, các văn bản luật cũng quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn về nội dung thực hiện quyền trưng cầu dân ý và xử lý vi phạm pháp luật thực hiện quyền trưng cầu dân ý ở nước ta, đáp ứng với yêu cầu chính trị, quá trình xây dựng kinh tế – xã hội ở nước ta trong tình hình mới.

Luật trưng cầu ý dân 2015 ra đời và có hiệu lực từ ngày 25/11/2015. Các nội dung về thực hiện quyền trưng cầu dân ý được quy định làm nền tảng cơ bản đã tạo ra nền tảng pháp lý về thực hiện quyền trưng cầu dân ý, thể hiện rõ nét sự tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quan tâm đến vấn đề trưng cầu dân ý ở nước ta hiện nay. Văn bản pháp lý này đã quy định về việc trưng cầu ý dân; nguyên tắc trưng cầu ý dân; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong trưng cầu ý dân; trình tự, thủ tục quyết định việctrưng cầu ý dân và tổ chức trưng cầu ý dân; kết quả và hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân. ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Như vậy, có thể thấy pháp luật quy định khá thống nhất và xuyên suốt về vấn đề quyền trưng cầu dân ý theo qiu định hiện hành. Điều này tạo điều kiện để thực hiện quyền trưng cầu dân ý của người dân; thể hiện rõ nét sự quan tâm thường xuyên và ý nghĩa của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề này ở nước ta. Đồng thời, cùng với hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn nêu trên đã giúp cho quá trình áp dụng những quy định của pháp luật về thực hiện quyền trưng cầu dân ý ở nước ta được thực hiện một cách hoàn thiện hơn. Phù hợp với xu thế phát triển trên thế giới hiện nay là vừa xây dựng và phát triển kinh tế xã hội nhưng đề cao vấn đề thực hiện quyền trưng cầu dân ý nhằm phát triển một cách bền vững. Từ đó, hình thành nền tảng pháp lý cơ bản trong việc thực thi pháp luật tực hiện quyền trưng cầu dân ý trong tiến trình phát triển đất nước, góp phần xây dựng và thực hiện các quy ớc ta hiện nay và trong tương lai.

2.2. Nội dung thực hiện quyền trưng cầu dân ý

* Phạm vi thực hiện

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật trưng cầu ý dân số 96/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.

Quyền trưng cầu dân ý là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước gồm:

+ Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp;

+ Vấn đề đặc biệt quan trọng về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia, về quốc phòng, an ninh, đối ngoại có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia;

+ Vấn đề đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của đất nước;

+ Vấn đề đặc biệt quan trọng khác của đất nước.

– Các trường hợp không tổ chức quyền trưng cầu dân ý gồm:

+ Không tổ chức lại việc quyền trưng cầu dân ý về nội dung đã được quyền trưng cầu dân ý trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày kết quả quyền trưng cầu dân ý được công bố;

+ Không tổ chức quyền trưng cầu dân ý trong thời gian ban bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bãi bỏ tình trạng chiến tranh, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước.

* Hiệu lực của kết quả quyền trưng cầu dân ý: Kết quả quyền trưng cầu dân ý có giá trị quyết định đối với vấn đề đưa ra quyền trưng cầu dân ý và có hiệu lực kể từ ngày công bố.

* Phạm vi tổ chức quyền trưng cầu dân ý: Quyền trưng cầu dân ý được thực hiện trong phạm vi cả nước. Trưng cầu dân ý cũng giống như bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền của nhân dân tự quyết trong vấn đề thể hiện ý chí của mình là rất quan trọng vì bản chất của trưng cầu dân ý là muốn lấy được ý chí đích thực của người dân. Nếu một cuộc trưng cầu dân ý không chặt chẽ về mặt thủ tục sẽ khiến người dân thờ ơ với việc bỏ phiếu, ngược lại nếu thủ tục trưng cầu dân ý quá rườm rà, phức tạp về thủ tục không những làm giảm đi tính kịp thời của quyết định mà còn mất đi ý nghĩa của cuộc trưng cầu dân ý, đồng thời tạo nên rào cản cho việc nhân dân thể hiện ý kiến của mình. Do vậy, cần tạo cho hoạt động trưng cầu dân ý được diễn ra theo một quy trình hợp pháp, công khai và dân chủ. Quy trình, thủ tục trưng cầu dân ý là khuân thước, chuẩn mực để người dân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo, đem lại cho cuộc trưng cầu dân ý kết quả khách quan, công bằng nhất và giảm thiểu các khiếu nại, tranh chấp phát sinh từ quá trình thực hiện trưng cầu dân ý

* Cơ quan có quyền đề nghị quyền trưng cầu dân ý: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc quyền trưng cầu dân ý.

* Chủ thể có quyền thực hiện: Người có quyền bỏ phiếu quyền trưng cầu dân ý: Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên tính đến ngày quyền trưng cầu dân ý có quyền bỏ phiếu để biểu quyết khi Nhà nước tổ chức quyền trưng cầu dân ý, trừ người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang phải chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

3. Vai trò thực hiện quyền trưng cầu dân ý

Vị trí, vai trò của dân chủ trực tiếp nói chung và của quyền trưng cầu dân ý nói riêng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia như thế nào, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, trình độ dân trí, trình độ chính trị, trình độ pháp lý, thói quen thực hiện dân chủ của người dân theo từng nước; phụ thuộc vào sự tác động của các quốc gia khác nhau trong khu vực và trên thế giới… Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, khi dân chủ càng phát triển thì càng tạo điều kiện mở rộng và phát huy quyền trưng cầu dân ý. Ngược lại, ở đâu và nơi nào quan tâm và chú trọng tới dân chủ trực tiếp cũng như quyền trưng cầu dân ý, thì nơi đó nền dân chủ mới thực sự phát triển và chế độ chính trị ở đó mới thực sự mang bản chất “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Nói cách khác, dân chủ là tiền đề để thực hiện và mở rộng quyền trưng cầu dân ý; và ngược lại, quyền trưng cầu dân ý là công cụ, phương tiện quan trọng thúc đẩy sự phát triển của dân chủ cả về phạm vi và mức độ.

Quyền trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp nhất. Bên cạnh các hình thức dân chủ khác như: bầu cử, quyền khiếu nại tố cáo, quyền được bàn bạc, quyết định các vấn đề phát triển kinh tế ở địa phương, quyền tự quản ở khu dân cư… thì quyền trưng cầu dân ý được coi là hình thức dân chủ trực tiếp nhất. Bởi lẽ, thông qua bầu cử người dân mới bầu ra người đại diện cho mình tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước, mọi tâm tự nguyện vọng của người dân sẽ được biểu đạt thông qua người đại diện, tuy nhiên trên thực tế ý chí của người đại diện đó lại bị chi phối bởi nhiều yếu tố do vậy nhiều khi hoạt động của người đại biểu đó lại không phản ánh được ý chí của nhân dân. Trong khi đó, thông qua hoạt động quyền trưng cầu dân ý, công dân thể hiện trực tiếp ý chí của mình đối với các vấn đề quan trọng của quốc gia thông qua lá phiếu. Do đó, những quyết định quan trọng của chính quyền luôn phù hợp và phản ánh được ý chí của người dân. Ngoài ra các hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở, người dân mặc dù được tham gia góp ý vào các hoạt động của cơ quan nhà nước, kiểm tra, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước tại địa phương. Tuy nhiên những ý kiến, nguyện vọng của nhân dân chỉ có tính chất tham khảo đối với cơ quan nhà nước chứ không có tính quyết định đối với hoạt động của cơ quan này. Trong khi, kết quả của hoạt động quyền trưng cầu dân ý có tính chất bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước, không có bất kỳ một cơ quan nhà nước nào có thể làm khác đi kết quả quyền trưng cầu dân ý.

Quyền trưng cầu dân ý là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, giúp Đảng và Nhà nước khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế. Nhà nước đóng vai trò là chủ thể tổ chức các cuộc quyền trưng cầu dân ý còn nhân dân đóng vai trò là chủ thể trung tâm của quyền trưng cầu dân ý. Thông qua các cuộc quyền trưng cầu dân ý, mối quan hệ của Nhà nước với công dân cũng được củng cố càng chở nên gắn bó, mật thiết hơn, công dân có điều kiện tìm hiểu, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Nhà nước dễ bao quát được mọi khía cạnh của đời sống thực tiễn, hiểu được ý chí, mong muốn của người dân, qua đó sẽ có những quyết định, sách lược phù hợp với điều kiện xã hội, phù hợp với lòng dân. Quyền trưng cầu dân ý giúp Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính sách, pháp luật, khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế, giúp cho đất nước ngày càng phát triển và lớn mạnh. Bên cạnh đó, quyền trưng cầu dân ý giúp ngăn ngừa những quyết định được đưa ra vội vã, thiếu cân nhắc từ phía Nhà nước.

Quyền trưng cầu dân ý góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm chính trị của người dân. Quyền trưng cầu dân ý tạo thói quen cho người dân phát biểu chính kiến của mình về các vấn đề chung của đất nước; đồng thời, đây cũng là bước chuẩn bị, tạo sự sẵn sàng cho người dân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật, đảm bảo tính khả thi cũng như hiệu quả của pháp luật. Vì vậy quá trình này sẽ tạo động lực cũng như là một cơ hội tuyệt vời cho nhân dân tìm hiểu về các vấn đề quan trọng của đất nước, thể hiền quyền cũng như nghĩa vụ của mình đối với đất nước.

4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền trưng cầu dân ý ở Việt Nam

4.1. Điều kiện về Chính trị

Trưng cầu dân ý nói chung và quyền trưng cầu dân ý nói riêng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội của mỗi một quốc gia, ngoài ra vì tính chất nhạy cảm của đất đai nên những vấn đề liên quan đến lĩnh vực này luôn có sự chỉ đạo sát sao, sự quan tâm cụ thể của Đảng và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc đưa ra đường lối chính sách về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là điều cần thiết. Hiện nay, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước. Việc xây dựng và ban hành Luật trưng cầu ý dân góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Bên cạnh đó, việc thực hiện quyền trưng cầu ý dân đã phản ánh nhu cầu khách quan, cần thiết trong giai đoạn hiện nay, tạo khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực vào việc quyết định các công việc của Nhà nước và xã hội phù hợp với bản chất của Nhà nước ta, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đồng thời, Luật trưng cầu ý dân cũng góp phần thiết thực vào việc phản ánh các giá trị tư tưởng lấy dân làm gốc được thể hiện rõ trong truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Xem Thêm ==> 999+ chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật 

  Thông qua hoạt động thực hiện quyền trưng cầu ý dân là một phương thức để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước trong từng thời điểm cụ thể. Việc ban hành Luật trưng cầu ý dân góp phần tạo ra cơ sở pháp lý đồng bộ và những điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp thực hành dân chủ, sử dụng phương thức trưng cầu ý dân để thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng nhu cầu khách quan trong sự nghiệp đổi mới đất nước.

Đồng thời, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta là cần kiện toàn về công tác xây dựng nhà nước pháp quyền phải nâng cao vai trò của các cơ quan Nhà nước trong quản lý đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân đáp ứng với tình hình mới của đất nước. Các cơ quan nhà nước phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện quyền trưng cầu dân ý của người dân đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì việc hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền trưng cầu dân ý ở nước ta là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nên các quy định của pháp luật và thực hiện có hiệu quả những quy định này trong thực tế. Một trong những đóng góp lớn nhất mà Nhà nước có thể tạo ra để vận hành tốt hơn chính sách quản lý nhà nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4.2. Điều kiện về pháp lý

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng về các lĩnh vực với các nước trong khu vực và trên thế giới, việc ban hành các quy định về quyền trưng cầu ý dân sẽ tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể vào những vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp thì Luật Trưng cầu ý dân 2015 được ban hành và thực hiện để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện quyền trưng cầu ý dân của nhân dân và là căn cứ là cơ sở pháp lý để giúp các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Các quy định đó của pháp luật đã đáp ứng được những mong muốn của người dân về thực hiện các quyền của người dân đối với quốc gia, cũng đảm bảo sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực quản lý kinh tế – xã hội. Pháp luật có vai trò quan trọng và có sự ảnh hưởng lớn đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, các quy định của pháp luật là cơ sở pháp lý bắt buộc các bên phải tôn trọng và tuân thủ.

 Khi pháp luật được ban hành, quy định một cách chặt chẽ và thống nhất thì sẽ điều chỉnh được việc thực hiện quyền trưng cầu dân ý của người dân, các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn sẽ thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, đảm bảo ổn định tình hình chính trị địa phương cũng như phát huy được vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, đảm bảo mọi công dân sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Do đó, để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ tranh chấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, Nhà nước đã ban hành các quy định  pháp luật phù hợp với thực tiễn tình hình phát triển của đất nước, trên cơ sở kế thừa và phát huy những quy định của pháp luật mang tính nền tảng.  Vì vậy, pháp luật về thực hiện quyền trưng cầu dân ý được ban hành gắn với từng giai đoạn phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các tranh chấp xảy ra.

4.3. Điều kiện về Kinh tế – xã hội

Thực hiện quyền trưng cầu dân ý là một trong những lĩnh vực quan trọng và có nhiều ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi một quốc gia. Xã hội ngày càng phát triển, vai trò của quyền tự do, quyền làm chủ của nhân dân mgày càng tăng. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội ảnh hưởng đến các quy định của pháp luật, khi xã hội phát triển nhu cầu điều chỉnh các quan hệ mới  phát sinh. Do đó, cần phải có pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội đó, các quy định của pháp luật phải phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, việc ban hành các quy định của pháp luật thực hiện quyền trưng cầu dân ý của nhân dân cần phải dựa trên sự phát triển của nền kinh tế, xã hội để kịp thời điều chỉnh các tranh chấp xảy ra.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng có nhiều tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và quy định của pháp luật, sự phát triển và kế thừa những thành tựu về khoa học công nghệ và áp dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn đã nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế và tri thức con người trong điều kiện mới, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta như hiện nay, đòi hỏi phải có một nền pháp chế phù hợp để thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, phù hợp với pháp luật quốc tế để mở rộng giao lưu, hợp tác trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Muốn thúc đẩy sự phát triển của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong mọi lĩnh vực cần phải có những quy định pháp luật phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế nhằm kịp thời điều chỉnh thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước và thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế – xã hội đều có sự điều chỉnh của pháp luật, khi kinh tế xã hội phát triển thì pháp luật cũng phải được ban hành, sửa đổi để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế để thúc đẩy kinh tế phát triển và đảm bảo pháp luật được thực thi trong đời sống xã hội. Vì vậy, sự phát triển kinh tế – xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách pháp luật của Nhà nước. Pháp luật và sự phát triển kinh – tế xã hội có mối quan hệ mật thiết thúc đẩy qua lại lẫn nhau, pháp luật phù hợp sẽ thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển và thông qua pháp luật để Nhà nước thống nhất quản lý các lĩnh vực của đời sống.

5. Thực hiện quyền quyền trưng cầu dân ý tại một số nước trên thế giới

* Trưng cầu dân ý ở Thụy Sỹ

Thụy Sỹ được coi là cha đẻ của các chế định trưng cầu dân ý, ở quốc gia này đã có trên 150 năm kinh nghiệm về trưng cầu dân ý. Vì vậy, ở đây hoạt động trưng cầu dân ý đi sâu vào thực tiễn, gắn liền với dân chủ trực tiếp. Trưng cầu dân ý ở Thụy Sỹ được ghi nhận lần đầu tiên trong bản Hiến pháp năm 1848, quy định quyền của cử tri trong việc ban hành Hiến pháp. Đó là quy định chỉ khi nào người dân có ý kiến thì Hiến pháp mới được phê chuẩn hoặc sửa đổi. Tuy nhiên do quy định còn sơ sài, chưa cụ thể nên việc áp dụng có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến khó áp dụng. Từ cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1950, Thụy Sỹ đã trở thành quốc gia nổi tiếng thế giới với các hoạt động trưng cầu dân ý. Hiến pháp 1949 được sửa đổi theo sáng kiến của nhân dân. Hiến pháp này ra đời có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tình trạng ban hành bừa bãi các sắc luật áp dụng khẩn cấp bằng việc quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn. Năm 1956, người dân Thụy Sỹ đã liên tục được hỏi ý kiến về một số vấn đề khá quan trọng của đất nước như hoạt động của nhà máy thuỷ điện, về chi tiêu tài chính của chính phủ Thụy Sỹ…Cho tới nay, Thụy Sỹ đã tiến hành 532 cuộc trưng cầu dân ý trên tổng số 1140 chiếm gần 47% cuộc trưng cầu dân ý trên toàn thế giới, và được diễn ra chủ yếu trong vòng 30 năm trở lại đây.

* Trưng cầu dân ý ở Pháp

TCDY ở Pháp không phải là một chế định được thực hiện thường xuyên như ở Thụy Sỹ, tuy nhiên Pháp cũng là một trong những nước có các hoạt động trưng cầu dân ý từ rất sớm. Hiến pháp của nền cộng hoà thứ năm đã được thông qua bằng một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1958. Kể từ đó, một số cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức theo Điều 11 của Hiến pháp, trao quyền cho Tổng thống nước Cộng hoà để “trình ra trước cuộc trưng cầu đối với bất kỳ dự luật nào của chính phủ liên quan đến việc tổ chức các cơ quan công quyền, hoặc những cải cách liên quan chính sách kinh tế hoặc xã hội của quốc gia”. Chỉ tính từ năm 1888 đến nay có 250 cuộc trưng cầu dân ý mặc dù các cuộc này không chính thức. Theo quy định về quy mô trưng cầu dân ý ở cấp xã cho thấy quy mô áp dụng trưng cầu dân ý hết sức hạn chế và chỉ đóng vai trò rất nhỏ (chỉ trong trường hợp sát nhập xã, và đây không phải trường hợp phổ biến). Đến năm 1992, Pháp ban hành luật 92-125 quy định về tổ chức các cơ quan nhà nước ở địa phương trong đó xác định về chế độ pháp lý của trưng cầu dân ý ở cấp xã. Hoạt động trưng cầu dân ý ở cấp xã được tiến hành theo nguyên tắc chỉ trưng cầu dân ý đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của xã, nếu đối tượng liên quan chỉ là một phần dân cư của xã thì chỉ trưng cầu dân ý đối với bộ phận nhỏ ấy. Theo đó, ý kiến của người dân chỉ có giá trị tham khảo, không có giá trị bắt buộc đối với cơ quan nhà nước. Kết quả trưng cầu dân ý ở Pháp được giám sát và kiểm tra tính trung thực thông qua thủ tục bầu cử chặt chẽ với sự hiện diện của Toà hành chính trung ương, Hội đồng hiến pháp. Đây là hai thiết chế quan trọng có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, bảo bệ chế dộ dân chủ ở Pháp. Các thiết chế pháp lý cơ bản nhằm kiểm tra, giám sát có hiệu quả bao gồm: Nghị định về công tác kiểm tra, giám sát pháp lý đối với các cuộc trưng cầu dân ý (Nghị định ngày 8/11/1960 và Quyết định số 87-226 ngày 2/6/1987). Đó là quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động vận động bầu cử và tính hợp lệ của trưng cầu dân ý do Hội đồng Hiến pháp đảm nhiệm có dự tham khảo ý kiến của Tòa án hành chính tối cao về các dự thảo luật.

Xem Thêm ==> Hòa giải tranh chấp đất đai theo luật đất đai 

* Trưng cầu dân ý ở Nhật Bản

Nhật Bản là một trong các nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, theo đó Thủ tướng là người nắm quyền cao nhất về các phương diện quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của hai viện, Quốc hội cùng tòa Hiến pháp có thẩm quyền ngăn chặn các quyết định vi hiến của chính phủ. Nhật không áp dụng chế độ Tổng thống được trực tiếp bầu ra như Hoa Kỳ, mà chọn chế độ nội các nghị viện kiểu Anh quốc. Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành, Nhật Bản được xếp vào các nước có nền dân chủ hoàn thiện. Lần đầu tiên trưng cầu dân ý được tiến hành theo đề nghị của cử tri vào năm 1996 tại thành phố Maki, tỉnh Niigata về dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử. Đã có 88% cử tri tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý và gần 60% số đó không đồng ý với dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại Niigata. Cũng trong năm 1996 dân chúng tại đảo Okinawa chiểu theo Luật trưng cầu ý dân về yêu cầu cắt giảm căn cứ quân sự của Mỹ tại đây.

Ở Nhật Bản một cuộc trưng cầu dân ý là bắt buộc trong trường hợp khi muốn giải tán Hội đồng nhân dân các cấp (trừ Quốc hội), cách chức đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (trừ đại biểu Quốc hội). Pháp luật Nhật Bản không quy định về những vấn đề không được đưa ra trưng cầu dân ý.

Điều 96 Hiến pháp quy định: “Việc sửa đổi Hiến pháp phải do Quốc hội đề xướng khi được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu của mỗi viện thông qua. Sau đó tu chính án phải được đa số nhân dân phê chuẩn trong một cuộc trưng cầu dân ý hay qua một cuộc tổng tuyển cử đặc biệt do Quốc hội ấn định”. Tuy nhiên quy định này cho tới nay chưa được một lần áp dụng trên thực tế. Trưng cầu dân ý ở Nhật Bản được được áp dụng chủ yếu ở địa phương theo quy định của từng tỉnh. Các tỉnh tổ chức trưng cầu dân ý chủ yếu về vấn đề đảm bảo thực thi quyền trưng cầu dân ý, xây dựng tuyến đường sắt qua các tỉnh, xây dựng nhà máy điện hạt nhân hay xây cầu… Đây là những vấn đề không bắt buộc phải đưa ra trưng cầu dân ý, nó là những vấn đề mở được tổ chức khi nhà nước thấy cần thiết phải hỏi ý kiến nhân dân.

Sáng kiến trưng cầu dân ý ở Nhật Bản do những người có địa vị ở các địa phương đề nghị lên Quốc hội sau khi đã thu thập đầy đủ chữ ký của người dân được pháp luật quy định. Các sáng kiến này, sau khi được trình lên sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua và ra quyết định trưng cầu dân ý. Hiệu lực pháp lý của một cuộc trưng cầu dân ý ở Nhật Bản có sự phân biệt rõ ràng giữa trưng cầu dân ý có hiệu lực bắt buộc và trưng cầu dân ý có tính chất tham khảo tuỳ theo tính chất của cuộc trưng cầu dân ý. Quy định này giống với một số nước ví dụ: ở Andorra, Úc và Tây Ban Nha, trưng cầu dân ý về một vấn đề quan trọng chỉ mang tính tham khảo nhưng trưng cầu dân ý về Hiến pháp thì có hiệu lực bắt buộc; ở Lithuania thì trưng cầu dân ý có hiệu lực bắt buộc nếu đó là các cuộc trưng cầu dân ý về các sáng kiến pháp luật do người dân đề xuất/khởi xướng và các trưng cầu dân ý về các quy định của Hiến pháp, còn các vấn đề khác thì chỉ là trưng cầu dân ý có tính chất tham khảo. Một cuộc trưng cầu dân ý có tính chất bắt buộc như về việc giải tán hay cách chức đại biểu hội đồng nhân dân thì kết quả của cuộc trưng cầu dân ý đây sẽ là quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc đối với cơ quan nhà nước; đối với các cuộc trưng cầu dân ý có tính chất tuỳ nghi như vấn đề về quyết định luật, quy định ở các khu tự trị thì về nguyên tắc kết quả cuộc trưng cầu dân ý không có giá trị bắt đối với các cơ quan nhà nước, người quyết định cuối cùng vẫn là chủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp.

Khi có quyết định của Quốc hội cho phép tổ chức trưng cầu dân ý, tính từ ngày có quyết định trưng cầu dân ý trong khoảng từ 30 đến 60 ngày phải tiến hành tổ chức trưng cầu dân ý. Phiếu trưng cầu dân ý có hai ô tán thành và phản đối, người dân sẽ thể hiện ý trí của mình bằng cách tự tay tích vào một trong hai ô của lá phiếu sau đó tự mình bỏ bào thùng phiếu. Pháp luật Nhật Bản cũng quy định độ tuổi công dân có đủ điều kiện để tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý là 20 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực dân sự. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý được xác định căn cứ vào quyết định của đa số quá bán, sau khi có kết quả phải báo cáo ngay lên Quốc hội sau đó là lên Thủ tướng.

* Philippines là một điểm sáng về vấn đề trưng cầu dân ý. Từ năm 1935 tới nay, ở quốc gia này đã có tới 15 cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ý. Tuy nhiên hầu hết các cuộc trưng cầu dân ý này được tổ chức trong giai đoạn đất nước Philippines đang là thuộc địa của Hoa Kỳ, vì vậy hoạt động trưng cầu dân ý trong giai đoạn này chưa phán ảnh được rõ nét bản chất dân chủ ở Philippines. Năm 1986, sau khi cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài của Tổng thống Ferdinand Marcos, sau khi lên nắm quyền vị Tổng thống mới, ông Corazon Aquino đã ban hành Tuyên Ngôn số 3, tuyên bố một chính sách quốc gia để thực hiện các cải cách bắt buộc của nhân dân, bảo vệ các quyền cơ bản của họ… Tổng thống Aquino sau đó đã ban hành Tuyên Ngôn số 9, tạo ra một Ủy ban Hiến pháp (thường được viết tắt là “ConCom” ở Philippines) soạn thảo một bản hiến pháp mới để thay thế Hiến pháp năm 1973 có hiệu lực trong chế độ thiết quân luật được áp đặt bởi người tiền nhiệm của mình.Các ConCom hoàn thành nhiệm vụ của họ vào ngày 12 /10/ 1986 và trình bày dự thảo hiến pháp lên Tổng thống Aquino vào ngày 15 tháng 10 năm 1986. Sau một thời gian chiến dịch thông tin toàn quốc, một trưng cầu dân ý về việc phê chuẩn của mình được tổ chức vào ngày 02 tháng 2 năm 1987 với kết quả 76,37% (tương đương 17.059.495 cử tri) ủng hộ việc phê chuẩn Hiến pháp mới; 22,65% (tương đương 5.058.714 cử tri) bỏ phiếu chống lại việc phê chuẩn.Hiến pháp mới đã công nhận một số quyền của người dân, mà một số quyền nay trước đây chỉ được dành cho chính phủ.Bao gồm quyền được bãi bỏ các luật quốc gia và luật địa phương, kiến nghị về luật mới, và đề xuất các tu chính án Hiến pháp.Phù hợp với quy định này năm 1989 Nghị viện đã thông qua đạo Luật Sáng kiến và Trưng cầu dân ý.

Cơ sở lý luận ngành Luật

Như vậy, có thể thấy rằng: Ở các nước, TCDY có thể được tổ chức theo quyết định của chính quyền (trung ương và địa phương) hoặc theo yêu cầu của một số lượng công dân nhất định (sáng kiến công dân). TCDY có thể mang tính bắt buộc hoặc không bắt buộc. TCDY mang tính bắt buộc có thể được tổ chức để người dân quyết định những vấn đề có ý nghĩa chính trị lớn của đất nước, như cải cách hiến pháp, tham gia các điều ước quốc tế, tư nhân hóa hoặc quốc hữu hóa, xung đột giữa các cơ quan chính quyền; hoặc các quy định về các nguồn lực kinh tế và tài chính như việc áp dụng các loại thuế mới, giá cả, chi tiêu công, v.v.. Các cuộc TCDY không bắt buộc có thể được tổ chức theo sáng kiến của công dân hoặc được khởi xướng bởi các cơ quan hành pháp, một số thành viên của cơ quan lập pháp và trong một số trường hợp là bởi các chính trị gia. TCDY theo yêu cầu của công dân thường dưới hai hình thức chính: để bãi bỏ toàn bộ hoặc một phần của một đạo luật hiện hành hoặc để đề xuất hay ngăn chặn một đạo luật mới. Hình thức thứ hai thường gây ra phản ứng nhiều hơn của cơ quan lập pháp, vì nó đóng vai trò như một cách thức kiểm soát chính trị để đảm bảo rằng cơ quan lập pháp không xâm phạm lợi ích hay niềm tin của công dân và các nhóm xã hội. Đối với TCDY không bắt buộc do cơ quan nhà nước khởi xướng, các vấn đề được cơ quan nhà nước đề xuất có thể được quy định trong hiến pháp hoặc luật TCDY. Kết quả của TCDY có thể mang tính tham vấn hoặc ràng buộc pháp lý. Một chính phủ dân chủ khó có thể bỏ qua các kết quả của một cuộc TCDY, ngay cả khi kết quả được quy định chỉ là để tham vấn. Cuộc TCDY về việc tham gia EU tại Pháp và Hà Lan vào năm 2005 là một thí dụ điển hình. Trong một số trường hợp, khi chính phủ không muốn chấp nhận kết quả mang tính ràng buộc của một cuộc TCDY, họ tổ chức một cuộc trưng cầu mới về cùng vấn đề nhưng với một câu hỏi khác, qua đó làm thay đổi kết quả của cuộc bỏ phiếu trước. Trong thực tế, TCDY ngày càng được các quốc gia sử dụng để giải quyết các vấn đề chính trị quan trọng, phức tạp. Việc tổ chức TCDY ở 9/10 nước châu Âu để xác định họ có được gia nhập EU hay không vào năm 2004 là một thí dụ cho thấy rõ xu hướng này. Ngoài ra, TCDY cũng thường được sử dụng để hợp thức hóa hiến pháp mới hoặc hiến pháp sửa đổi, hay để giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền, lãnh thổ.


Trên đây là mẫu cơ sở lý luận đề tài về Cơ sở lý luận về quyền trưng cầu dân ý được chia sẻ miễn phí, các bạn có thể bấm vào nút tải dưới đây. Tài liệu trên đây có thể chưa đáp ứng được nhu cầu các bạn sinh viên, nếu các bạn có nhu cầu viết bài theo đề tài của mình có thể liên hệ dịch vụ báo cáo thực tập để được hỗ trợ qua SDT/Zalo :0973287149

TẢI FILE MÃU MIỄN PHÍ

Contact Me on Zalo