Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp

Rate this post

Download miễn phí mẫu cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp dành cho các bạn sinh viên đang làm báo cáo tốt nghiệp, mẫu cơ sở lý luận đề tài về Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp được kham khảo từ báo cáo tốt nghiệp đạt điểm cao hy vọng giúp cho các bạn khóa sau có thêm tài liệu hay để làm bài báo cáo thực tập của mình 

Các bạn sinh viên đang gặp khó khăn trong quá trình làm báo cáo thực tập, chuyên đề tốt nghiệp , nếu cần sự hỗ trợ dịch vụ viết bài trọn gói , chất lượng các bạn liên hệ qua SDT/Zalo :0973287149


 Khái quát chung về con dấu của doanh nghiệp

 Khái niệm và đặc điểm con dấu của doanh nghiệp

Từ điển bách khoa Công an nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2005 cho rằng: con dấu vật làm bằng gỗ, kim loại, cao su… mặt dưới hình tròn hoặc hình vuông, hoặc hình chữ nhật… theo những kích cỡ nhất định, có khắc chữ hoặc hình, được dùng in trên giấy tờ để làm bằng, làm tin trong quan hệ giao dịch giữa các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang và tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Đây là khái niệm miêu tả khá đầy đủ, chi tiết cả về hình thức lẫn nội dung của con dấu. Con dấu được quản lí chặt chẽ từ việc khắc đến việc sử dụng. Tuy nhiên khái niệm này giới hạn giá trị pháp lý của con dấu khi chỉ đề cập tới việc sử dụng con dấu trong các giao dịch dân sự mà chưa bao hàm tới việc sử dụng con dấu trong công tác nội bộ của chủ thể sở hữu con dấu. Ở Việt Nam, con dấu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và một số chức danh nhà nước. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Khái niệm con dấu đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 99/2016/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, con dấu là phương tiện đặc biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, quản lý, được sử dụng để đóng trên văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước. Quy định khái niệm con dấu này đi sâu vào giải thích xuất xứ, chức năng cũng như phạm vi chủ thể có quyền sử dụng con dấu nói chung. Khái niệm đã lược bỏ mô tả chi tiết về đặc điểm vật lý của con dấu cũng như giá trị pháp lý của con dấu trong quá trình sử dụng. Nó cho thấy con dấu có thể được các cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước sử dụng trong hoạt động của mình trong đó có doanh nghiệp.

Hiện nay, Việt Nam đang hội nhập với công nghệ 4.0. Nền công nghệ này sẽ ảnh hưởng đến những thủ tục, quan điểm về con dấu doanh nghiệp. Nguy cơ đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam trong nền công nghiệp 4.0 chính là quá trình tự động hóa sẽ triệt tiêu nhiều vị trí công việc truyền thống. Cách thức tổ chức, quản lý dùng công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng rõ rệt tạo nên khoảng cách trong tăng trưởng giữa các doanh nghiệp. Một trong số bị ảnh hưởng là khái niệm lại con dấu doanh nghiệp, về hình thức và cách thức sử dụng để theo kịp tốc độ hiện đại hóa của thị trường. Một trong những xuất hiện khởi đầu là “chữ ký số” hay còn gọi là “chữ ký điện tử”. Việt Nam đã có Luật Giao dịch điện tử ngày 29/11/2005; Nghị định 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Khi tiến hành giao dịch điện tử trong hoạt động công cộng, người sử dụng là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải sử dụng chữ ký số công cộng do Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp, hiện tại gần như hầu hết các doanh nghiệp đều phải kê khai thuế qua mạng. Trong thời đại Công nghệ thông tin hiện nay thì việc rút ngắn khoảng cách giữa không gian, thời gian luôn là một đòi hỏi cấp thiết trong công việc kinh doanh. Chữ ký số ra đời đã giúp cho Doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức trong một số công việc giao dịch với Ngân hàng, cơ quan hành chính. Ở các nước phát triển, họ thậm chí còn quy định các doanh nghiệp không bắt buộc sử dụng con dấu doanh nghiệp hoặc sử dụng con dấu kỹ thuật số “the digital seal”, nếu doanh nghiệp vẫn sử dụng con dấu thì cần phải tuân thủ các quy tắc khi sử dụng con dấu. Có thể thấy, khi công nghệ và kinh tế phát triển, các thủ tục liên quan đến con dấu được tối giản và yêu cầu hệ thống pháp luật ngày càng tinh anh hơn Đồng thời, người tham gia các quan hệ pháp luật cần ý thức tự giác thực hiện đúng quy định pháp luật và chịu chịu trách nhiệm về hành vi mình thực hiện.

Xem Thêm ==> Viết chuyên đề thực tập , giá rẻ 

Trong giai đoạn hiện tại, Chính phủ Việt Nam và các ban ngành đã có nhiều chính sách đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tại Việt Nam. Nhưng doanh nghiệp công nghệ thông tin và doanh nghiệp ứng dụng đa ngành nghề Việt Nam vẫn thiếu nhiều điểm giao thoa trong việc hiểu và ứng dụng.

Tóm lại: Con dấu doanh nghiệp là phương tiện đặc biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và quản lý cho các tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh để đóng trên văn bản, giấy tờ của mình.

Ý nghĩa, vai trò con dấu của doanh nghiệp 

Ý nghĩa

Đối với con dấu của tổ chức được công nhận thành lập hợp pháp thì con dấu là đại diện pháp lý của tổ chức đó, có giá trị xác nhận các quyền và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật công nhận. Vì vậy con dấu pháp nhân phải được quản lý hết sức cẩn thận để tránh những rủi ro do bị thất lạc, giả mạo,..

Vai trò

 Theo quy định tại Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014, trừ một số trường hợp do pháp luật quy định[6]  thì việc sử dụng con dấu sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên trong từng giao dịch cụ thể. Đồng thời, do việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty sau khi con dấu đã được được đăng ký để sử dụng công khai và nguyên mẫu[7] nên có thể hiểu rằng các doanh nghiệp có thể tự thỏa thuận về việc sử dụng con dấu, thậm chí có thể ký hợp đồng mà không cần phải đóng dấu. Tuy nhiên, do nhận thức về tính xác thực của con dấu nên hiện nay gần như tất cả các doanh nghiệp vẫn cảm thấy cần phải có con dấu để tiến hành giao dịch nhằm đảm bảo sự an toàn về pháp lý. Vì thế, theo tâm lý chung, con dấu được xem như một “chữ ký mẫu” mang tính xác thực cao, tạo ra niềm tin cho đối tác về thẩm quyền của người ký kết, giúp văn bản được công nhận và bảo đảm giao dịch được thực thi. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

 Sự khác biệt giữa con dấu của doanh nghiệp với con dấu của các cơ quan, tổ chức khác

Các cơ quan, tổ chức không phải doanh nghiệp được sử dụng con dấu có hình quốc huy theo quy định tại Nghị định 99/2016/ NĐ-CP quy định về quản lý và sử dụng con dấu bao gồm:

– Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thư ký Quốc hội.

  • Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử Quốc gia, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  • Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng cục hoặc đơn vị tương đương Tổng cục.
  • Văn phòng Chủ tịch nước.
  • Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân cấp cao, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Toà án quân sự trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương, Toà án quân sự khu vực.
  • Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện kiểm sát nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực.
  • Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.
  • Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án quân khu và tương đương.
  • Đại sứ quán, Phòng Lãnh sự thuộc Đại sứ quán, Tổng Lãnh sự quán, Lãnh sự quán, Tổng Lãnh sự danh dự, Lãnh sự danh dự, Phái đoàn thường trực, Phái đoàn, Phái đoàn quan sát viên thường trực và cơ quan có tên gọi khác thực hiện chức năng đại diện của Nhà nước Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên Chính phủ hoặc tại vùng lãnh thổ nước ngoài.
  • Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban Biên giới quốc gia, Cục Lãnh sự, Cục Lễ tân Nhà nước, Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Ngoại giao.
  • Cơ quan khác có chức năng quản lý nhà nước và được phép sử dụng con dấu có hình Quốc huy theo quy định.

Về giá trị pháp lý của con dấu của các cơ quan, tổ chức khác thì con dấu giúp các văn bản của cơ quan, tổ chức đó được khẳng định, đảm bảo về tính chính xác và chịu trách nhiệm trước pháp lý. Mỗi một văn bản được các cơ quan đóng dấu, thì khi đó mọi trách nhiệm của những người liên quan đến văn bản đó sẽ được thực thi, hoặc chịu trách nhiệm cho văn bản đó. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Nếu các văn bản của các cơ quan, tổ chức không phải doanh nghiệp gửi đến cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác mà không đóng dấu của các cơ quan banh hành văn bản thì không có giá trị pháp lý và người nhận văn bản có quyền không thực hiện. Theo luật pháp Việt Nam quy định dấu là vật công chứng giấy tờ có hiệu lực trên văn bản được nhà nước phát hành. Dấu là thành phần giúp cho công việc chống giả mạo văn bản, là công cụ quan trọng để phân biệt tài liệu thật, giả; đấu tranh chống lại kẻ gian, làm giả tài liệu và các hành vi phi pháp gian lận… nhằm gây ảnh hưởng đến uy tín cũng như lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức không phải doanh nghiệp.

Con dấu của các đơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác có hình Quốc huy được sử dụng theo quy định của pháp luật, thể hiện ý chí của Nhà nước. Đối với con dấu doanh nghiệp, con dấu đó không được có hình Quốc huy và thể hiện ý chí pháp nhân. Có thể hiểu con dấu có hình Quốc huy là đại diện cho quyền lực Nhà nước, đại diện cho một cơ quan Nhà nước đóng dấu ban hành các văn bản. Do đó, các văn bản được ký, đóng dấu sẽ do Nhà nước chịu trách nhiệm. Việc sử dụng con dấu có hình Quốc huy phải được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức hoặc được quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước chỉ được sử dụng con dấu khi đã có quy định về việc được phép sử dụng con dấu trong văn bản quy phạm pháp luật hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền; phải đăng ký mẫu con dấu trước khi sử dụng.

Con dấu doanh nghiệp không bị ràng buộc nhiều về các loại văn bản được đóng dấu như con dấu của cơ quan Nhà nước. Bởi con dấu thể hiện ý chí của người đại diện pháp luật, mang tư cách pháp nhân và sử dụng trong các giao dịch dân sự, các quyết định của tổ chức doanh nghiệp đó. Do đó, các văn bản có con dấu và chữ ký của người đại diện pháp luật, có tính ban hành trong nội bộ, trong các giao dịch dân sự; pháp nhân phải chịu trách nhiệm với nội dung văn bản được ký đóng dấu theo đúng quy định pháp luật đó

Một số nội dung cơ bản về con dấu của doanh nghiệp

 Đăng ký, chấm dứt và hủy con dấu của doanh nghiệp 

Đăng ký con dấu doanh nghiệp

Con dấu muốn được đi vào sử dụng, phát huy được giá trị pháp lý của nó thì phải trải qua thủ tục xác thực, công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Xuất phát từ tầm quan trọng của con dấu góp phần quyết định giá trị pháp lý của những văn bản được đóng dấu trong các quan hệ pháp luật nhất định cho nên việc sử dụng con dấu cần được đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật cũng như sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Và một trong những hoạt động mang tính chất thủ tục hành chính nhằm giúp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm bắt được sự hiện diện của con dấu doanh nghiệp đó chính là việc doanh nghiệp phải đi đăng ký mẫu dấu. Nếu con dấu doanh nghiệp không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mẫu dấu doanh nghiệp điều đó đồng nghĩa với việc con dấu đó chưa có giá trị pháp lý khi đem vào sử dụng dù có được hình thành dưới dạng vật chất trên thực tế đi chăng nữa. Vì vậy, doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động đăng ký mẫu dấu doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho giá trị pháp lý của con dấu được phát huy cũng như bảo đảm quyền quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp trong hoạt động liên quan đến sử dụng con dấu.

Tuy nhiên, sau khi Luật doanh nghiệp 2014 được ban hành và có hiệu lực thì hoạt động đăng ký mẫu dấu đã có chuyển biến lớn so với trước đây. Theo đó, trước thời điểm Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thì hoạt động đăng ký mẫu dấu doanh nghiệp là bắt buộc. Con dấu làm xong phải đăng ký mẫu tại cơ quan Công an và chỉ được sử dụng con dấu sau khi được cơ quan Công an cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu. Còn sau khi Luật doanh nghiệp 2014 ra đời thì hoạt động đăng ký mẫu dấu trở thành thông báo về mẫu dấu: theo đó trước khi sử dụng, doanh nghiệp phải thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Điều này nhằm nhấn mạnh quyền sở hữu con dấu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được quyền tự quyết định hình thức, số lượng, nội dung con dấu, cơ quan nhà nước chỉ đóng vai trò tiếp nhận thông báo mẫu dấu và đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia và giúp doanh nghiệp giải quyết khi có xảy ra tranh chấp.

Thủ tục thông báo về mẫu dấu doanh nghiệp được quy định tại Luật doanh nghiệp 2014 và Nghị định 99/2016/NĐ-CP về quản lý và sử dụng con dấu theo đó doanh nghiệp sẽ chuẩn bị hồ sơ thông báo mẫu con dấu doanh nghiệp gồm: Thông báo về việc sử dụng mẫu con dấu của doanh nghiệp; Tờ khai thông tin người nộp hồ sơ; Mục lục hồ sơ; Bìa hồ sơ. Sau khi chuẩn bị xong hồ sơ nêu trên, doanh nghiệp tiến hành nộp hồ sơ tại Phòng Đăng ký kinh doanh chứ không còn là cơ quan thuộc Bộ Công an như trước kia. Nhận được hồ sơ thông báo về mẫu con dấu, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận cho doanh nghiệp và thực hiện đăng tải thông báo của doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và cấp Thông báo về việc đăng tải thông tin mẫu con dấu của doanh nghiệp. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Cơ chế quản lý nhà nước đối với con dấu doanh nghiệp đã thay đổi theo hướng cởi mở, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp. Thay vì phải đăng ký mẫu dấu với cơ quan Công an như trước đây thì hiện nay doanh nghiệp được hoàn toàn chủ động trong việc làm con dấu. Doanh nghiệp có thể tự khắc dấu hoặc đến cơ sở khắc dấu để làm con dấu. Trước khi sử dụng con dấu, doanh nghiệp chỉ cần gửi thông báo mẫu dấu đến cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng Thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Mục đích của quy định này là nhằm công bố công khai cho cho xã hội và bên thứ ba được biết về con dấu của doanh nghiệp.

Xem Thêm ==> Kho chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật 

Về thời điểm có hiệu lực của con dấu doanh nghiệp: Theo quy định tại bản Dự thảo mới nhất của Nghị định hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp được Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ xem xét thông qua, nội dung thông báo mẫu dấu do doanh nghiệp gửi cơ quan đăng ký kinh doanh bao gồm thông tin về thời điểm có hiệu lực của mẫu con dấu. Như vậy, thời điểm có hiệu lực của con dấu là do doanh nghiệp tự quyết định; tuy nhiên, lưu ý rằng, trước khi sử dụng, doanh nghiệp phải gửi thông báo mẫu dấu cho cơ quan đăng ký kinh đoanh để đăng tải công khai trên Cổng Thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Như vậy, từ 01/7/2015, doanh nghiệp đã có thể tự làm lấy con dấu của mình hoặc tự do sử dụng dịch vụ khắc dấu trên thị trường. Doanh nghiệp và công ty kinh doanh khắc dấu hoàn toàn có thể chủ động thực hiện giao dịch liên quan đến việc làm con dấu doanh nghiệp như một giao dịch dân sự thông thường. Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Về mẫu dấu đối với các doanh nghiệp được thành lập trước khi Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực thì:

  • Nếu tiếp tục sử dụng con dấu đã được cấp thì được tiếp tục sử dụng và không phải thông báo mẫu con dấu cho Cơ quan Đăng ký kinh doanh.
  • Nếu doanh nghiệp muốn làm thêm con dấu hoặc thay đổi màu mực dấu thì thực hiện thủ tục thông báo mẫu con dấu như thủ tục nêu trên.
  • Nếu doanh nghiệp làm mới con dấu thì phải nộp lại con dấu và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu cho cơ quan công an nơi đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu.

Hủy con dấu doanh nghiệp

Doanh nghiệp phải thực hiện hủy con dấu doanh nghiệp khi: Đăng ký lại mẫu con dấu do con dấu bị biến dạng, mòn, hỏng, thay đổi chất liệu hoặc cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước có sự thay đổi về tổ chức, đổi tên; Có quyết định chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động, kết thúc nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền; Có quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, giấy đăng ký hoạt động, giấy phép hoạt động của cơ quan có thẩm quyền; Con dấu bị mất được tìm thấy sau khi đã bị hủy giá trị sử dụng con dấu; Có quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động của cơ quan có thẩm quyền; phát hiện một trong các hành vi Làm giả con dấu, sử dụng con dấu giả; Mua bán con dấu, tiêu hủy trái phép con dấu; Sử dụng con dấu hết giá trị sử dụng; Cố ý làm biến dạng, sửa chữa nội dung mẫu con dấu đã đăng ký; Không giao nộp con dấu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đăng ký mẫu con dấu; Mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp con dấu; sử dụng con dấu của Cơ quan, tổ chức khác để hoạt động; Chiếm giữ trái phép, chiếm đoạt con dấu; Sử dụng con dấu chưa đăng ký mẫu con dấu. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Các trường hợp hủy mẫu dấu có thể phân loại thành ba trường hợp: Con dấu không còn khả năng sử dụng; Tồn tại mẫu dấu trái phép; tổ chức sở hữu mẫu dấu mất quyền sử dụng mẫu dấu liên quan đến thay đổi cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. Dù thuộc trường hợp nào thì sau thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục hủy mẫu dấu doanh nghiệp đồng nghĩa với việc mẫu dấu bị hủy sẽ chấm dứt giá trị sử dụng cũng như giá trị pháp lý của mình. Tức bất kỳ văn bản, tài liệu nào được đóng dấu đã bị hủy (nếu có) đều không có giá trị pháp lý trong quan hệ pháp luật được xác lập liên quan đến nội dung văn bản đó. Thông thường việc hủy mẫu dấu đồng nghĩa với việc mẫu dấu sẽ bị thu hồi và tiêu hủy. Nếu doanh nghiệp không giao nộp con dấu theo quy định, thì cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu ra quyết định hủy giá trị sử dụng con dấu.

 Các quy định về quản lý và sử dụng con dấu của doanh nghiệp

Văn bản đi đến, công văn giấy tờ và tài liệu cũng được coi là loại tài sản có giá trị như các loại tài sản khác của doanh nghiệp. Đó là các căn cứ, cơ sở cho việc đưa ra các quyết định, kế hoạch, điều chỉnh của doanh nghiệp. Và đây cũng chính là đối tượng liên quan đến sử dụng con dấu doanh nghiệp.

Mỗi công văn, giấy tờ, tài liệu của doanh nghiệp lại có một giá trị khác nhau, mục tiêu sử dụng và lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy, để có thể tra cứu, khai thác và sử dụng một cách nhanh chóng, hiệu quả thì tất cả các công văn tài liệu này cần được phân loại một cách khoa học, hợp lý. Chúng có thể được phân loại dựa theo cách sau:

  • Tài liệu, công văn giấy tờ hành chính văn phòng gồm có: Công văn, văn bản quy phạm phát luật, quy định và chỉ thị của Ban lãnh đạo; Hồ sơ về việc thành lập DN (gồm giấy phép kinh doanh, đơn xin và quyết định thành lập…); Tài liệu về các hội nghị, đại hội; Báo cáo tổng kết hoạt động doanh nghiệp; Tài liệu mua sắm thiết bị văn phòng, hàng hóa…; Các loại văn bản giấy tờ khác.
  • Hồ sơ, tài liệu nhân sự: Các quyết định bổ nhiệm, bầu cử ban lãnh

đạo; Hồ sơ tuyển dụng, tiếp nhận, thuyên chuyển lao động; Hồ sơ nhân viên trong doanh nghiệp (như sơ yếu lý lịch, bằng cấp, hợp đồng lao động…); Các quyết định khen thưởng kỷ luật nhân viên; Các tài liệu, giấy tờ về BHXH, lương, phụ cấp người lao động. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

  • Các loại giấy tờ tài liệu về hoạt động kinh doanh sản xuất: Văn bản, tài liệu về kế hoạch sản xuất kinh doanh; Kế hoạch tài vụ hàng năm/quý; Giấy tờ tài liệu về các hợp đồng kinh tế, thương mại, mua bán hàng hóa…; Các tài liệu liên quan khác.

– Văn bản, hồ sơ giấy tờ, tài liệu kỹ thuật: Văn bản giấy tờ về đăng ký bản quyền, sở hữu; Hồ sơ về thiết kế mẫu mã sản phẩm; Các tài liệu về máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, sáng chế, cải tiến kỹ thuật công nghệ…; Tài liệu liên quan khác.

– Văn bản, giấy tờ tài liệu về tài chính, kế toán: Các loại VBQPPL, các quy định và hướng dẫn về hoạt động tài chính kế toán; Dự toán, quyết toán kinh phí; Báo cáo tài chính, kế hoạch tài chính; Kế hoạch thu chi, chứng từ sổ sách kế toán; Hồ sơ, giấy tờ, tài liệu về kiểm kê tài sản và kiểm tra tài chính hàng năm.

Vậy trong tất cả các văn bản của doanh nghiệp nói trên thì văn bản, tài liệu nào là đối tượng liên quan đến sử dụng con dấu doanh nghiệp? Theo quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 25 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư quy định: Những văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành phải đóng dấu của cơ quan, tổ chức. Điều đó cho thấy mọi văn bản do doanh nghiệp thực hiện soạn thảo và ban hành đều phải được đóng dấu của doanh nghiệp. Điều này cũng được khẳng định tại điểm a Khoản 1 Điều 5 về thể thức văn bản bao gồm các thành phần cơ bản trong đó có cả Dấu của cơ quan tổ chức. Quy định này là hoàn toàn hợp lý, bởi trước khi được ban hành văn bản sẽ trải qua quy trình soạn thảo chặt chẽ và kĩ lưỡng để khẳng định giá trị sử dụng của văn bản trên thực tế. Việc đóng dấu vào những văn bản do doanh nghiệp ban hành nhằm nhấn mạnh tính chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với những nội dung mình ban hành.

Ngoài ra, điểm c Khoản 2 Điều 25 Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư còn quy định: Chỉ được đóng dấu vào những văn bản, giấy tờ sau khi đã có chữ ký của người có thẩm quyền. Điều này cho thấy giá trị pháp lý của chữ ký người có thẩm quyền trong doanh nghiệp có giá trị quyết định cao hơn so với văn bản chỉ có con dấu doanh nghiệp. Tức văn bản có dấu doanh nghiệp phải có chữ ký người có thẩm quyền trong doanh nghiệp mới phát huy giá trị pháp lý của văn bản, đóng dấu là bước cuối cùng của công tác ban hành văn bản của doanh nghiệp. Tuy nhiên hiện nay pháp luật vẫn chưa quy định cụ thể về việc phân định giá trị pháp lý của con dấu doanh nghiệp và chữ ký người có thẩm quyền trong doanh nghiệp.

Đối với văn bản, giấy tờ tài liệu về tài chính, kế toán thì Điều 16 Luật kế toán 2015 cho thấy những nội dung cần phải được thể hiện trong chứng từ kế toán trong đó không bao gồm dấu doanh nghiệp. Tuy nhiên, chữ ký của người có thẩm quyền trong doanh nghiệp lại là nội dung bắt buộc đối với chứng từ kế toán. Theo đó, Chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ. Chữ ký trên chứng từ kế toán phải do người có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền ký. Nghiêm cấm ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Chủ thể sử dụng con dấu của doanh nghiệp

Điều 24 Nghị định 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ Về quản lý và sử dụng con dấu quy định: người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 7 và Điều 8 Nghị định này có trách nhiệm quản lý, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu và ban hành quy định về quản lý và sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức mình. Con dấu phải được quản lý chặt chẽ tại trụ sở của cơ quan, tổ chức; chỉ chức danh nhà nước, người đứng đầu cơ quan, tổ chức mới được quyết định việc mang con dấu ra ngoài trụ sở để sử dụng giải quyết công việc.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người đứng đầu doanh nghiệp, được doanh nghiệp uỷ quyền, thay mặt doanh nghiệp thực hiện các giao dịch vì lợi ích của doanh nghiệp, với đối tác, khách hàng và với cơ quan Nhà nước. Quyền, nghĩa vụ và chức danh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định trong điều lệ doanh nghiệp.

Hoạt động của một doanh nghiệp được thông qua người đại diện theo pháp luật. Người đại diện theo pháp luật sẽ nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch thể hiện mối quan hệ với các chủ thể trong doanh nghiệp (như với các thành viên, cổ đông góp vốn) hoặc với các chủ thể khác bên ngoài doanh nghiệp (đối tác, khách hàng, cơ quan quản lý nhà nước…). Trong suốt quá trình hoạt động, từ khi thành lập đến khi giải thể hoặc tuyên bố phá sản hay sáp nhập, chia, tách, doanh nghiệp phải đảm bảo luôn có người đại diện theo pháp luật. Doanh nghiệp luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật, thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và nếu người đó xuất cảnh khỏi Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Nhưng người ủy quyền đó vẫn chịu mọi trách nhiệm về hoạt động của người được ủy quyền. Quy định này cho thấy, vai trò và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp khá lớn, họ phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ các hoạt động, các giao dịch của doanh nghiệp. Chính vì tầm quan trọng như vậy, mà Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đều dành một chương riêng quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự, đặc biệt là đại diện của pháp nhân. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cụ thể về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại Điều 13 và Điều 14. Có thể thấy rằng, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có nhiều sửa đổi khá quan trọng về người đại diện theo pháp luật. Cụ thể là quy định cho phép doanh nghiệp tự quyết định về số lượng, chức danh, thẩm quyền của người đại diện theo pháp luật; đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, bỏ trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Đây là điểm mới so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2005. Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên trao quyền lựa chọn số lượng người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hội nhập nhanh hơn, tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật. Vì quy chế về người đại diện theo pháp luật có mối liên hệ trực tiếp với quyền tự chủ của doanh nghiệp trong chủ động lựa chọn địa bàn, hình thức kinh doanh, mở rộng quy mô kinh doanh, chủ động tìm kiếm thị trường và khách hàng, mà muốn thực hiện được những quyền này, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp lớn, thì cần phải có nhiều người đại diện cho doanh nghiệp đó trong giao kết và thực hiện các giao dịch với chủ thể khác. Điểm sửa đổi này có ý nghĩa rất to lớn, đã giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp suốt một thời gian dài. Cụ thể:

Thứ nhất, “giảm tải” trách nhiệm lên một người đại diện theo pháp luật. Có thể thấy rằng mọi giao dịch đối ngoại, đối nội của doanh nghiệp đều chỉ có thể thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật. Thực tế đòi hỏi, người đại diện theo pháp luật phải có rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế mới có thể điều hành doanh nghiệp một cách trơn chu, chuẩn mực. Người đại diện theo pháp luật phải biết về quản lý kinh doanh, quản lý nhân sự, quản lý thuế, hợp đồng… Nếu không biết, họ vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với toàn bộ các giao dịch với tư cách là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Như vậy, vô hình chung, việc trao cho một cá nhân quá nhiều quyền và nghĩa vụ, đặc biệt là nghĩa vụ sẽ gây khó khăn cho người đó trong việc thực hiện tốt quyền và trách nhiệm của mình. Mặc dù, pháp luật cũng có những chế định cho phép người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho một cá nhân khác, nhưng thực tế áp dụng cho thấy quy định này còn nhiều hạn chế. Như trường hợp người đại diện theo pháp luật vắng mặt, doanh nghiệp chỉ có thể giải quyết công việc khi có sự ủy quyền từ người đại diện theo pháp luật cho một người khác trong doanh nghiệp, nhưng về nguyên tắc người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm trước công ty, trước pháp luật và bên thứ ba về tất cả những nội dung thuộc thẩm quyền của mình. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp lớn, khi có rất nhiều các hợp đồng lớn phải ký kết, các dự án lớn để đầu tư, số lượng người lao động thật lớn để triển khai thực hiện công việc, thì việc người đại diện có thể cho những công việc của những người đã nhận ủy quyền thay mặt họ để giao dịch trong thời gian họ vắng mặt là một điều khó khả thi. Các quy định của pháp luật cũng có những hạn chế nhất định đối với người được ủy quyền như chỉ cho phép người này được ủy quyền lại cho người thứ ba nếu được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Điều này đã gây ra những vướng mắc không nhỏ cho doanh nghiệp nếu người được nhận ủy quyền gặp sự cố bất khả kháng không thể tiếp tục thực hiện công việc được ủy quyền, đặc biệt, trong trường hợp người được ủy quyền này nhận ủy quyền ký kết hợp đồng kinh tế với đối tác. Thực tiễn xét xử tranh chấp kinh tế cho thấy, rất nhiều vụ án doanh nghiệp đã phải thua kiện, vì hợp đồng bị tuyên vô hiệu do doanh nghiệp một phần không nắm vững các quy định của pháp luật, người nhận ủy quyền tự ý ủy quyền lại khi chưa có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Nhưng nó cũng đặt ra một “bài toán” pháp lý cho các nhà làm luật giải quyết tình trạng trên để đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thông suốt.

Thứ hai, trường hợp doanh nghiệp thay đổi người đại diện theo pháp luật. Trong khoảng thời gian doanh nghiệp thực hiện các thủ tục pháp lý thay đổi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì vị trí người đại diện theo pháp luật gần như bị trống, bởi lẽ, lúc này người mới được bổ nhiệm nhưng chưa được ghi nhận trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Bên thứ ba tiến hành giao dịch sẽ gặp khó khăn trong xác định ai là người đại diện theo pháp luật thật sự. Hoặc trường hợp người đại diện theo pháp luật có vấn đề về sức khỏe hoặc bị tạm giam, tạm giữ, thì doanh nghiệp cũng phải mất một khoảng thời gian lúng túng để xác định người thay thế, chưa kể đến quá trình chọn ra người thay thế trong những thời điểm nhạy cảm của một doanh nghiệp chưa hẳn sẽ diễn ra suôn sẻ và nhận được sự hợp tác của những người khác. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Thứ ba, quy định cho phép doanh nghiệp có nhiều người đại diện theo pháp luật cũng giải quyết được các hạn chế trong giao dịch của doanh nghiệp với người đại diện, giảm thiểu được các khó khăn của doanh nghiệp. Đặc biệt, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật đi nước ngoài dưới 30 ngày nhưng không muốn ủy quyền cho người khác hoặc người đại diện theo pháp luật xung đột với hội đồng thành viên, hội đồng quản trị và không hợp tác trong việc ký kết các văn bản, giao dịch của công ty, đồng thời không muốn ủy quyền cho người khác. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý về người đại diện theo pháp luật cần được xác định rõ như: Cơ chế giám sát lẫn nhau giữa những người đại diện theo pháp luật; sự phân định về trách nhiệm liên đới hay riêng lẻ của các đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện của các đại diện theo pháp luật trong việc xác lập giao dịch nhân danh doanh nghiệp. Có những trường hợp đặt ra trong thực tiễn cần được làm rõ như xác định giao dịch đòi hỏi phải được sự chấp thuận của tất cả các đại diện theo pháp luật hay hiệu lực của hợp đồng đã được doanh nghiệp ký kết với đối tác và đang thực hiện nhưng xảy ra trường hợp một đại diện theo pháp luật khác phản đối hay không đồng ý một phần của hợp đồng này. Yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng điều lệ công ty cũng cần chặt chẽ hơn để tránh chồng chéo về thẩm quyền của mỗi người và tăng cường hiệu quả quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.

Xem Thêm ==> Kiểm soát thủ tục hành chính tại Sở giáo dục và đào tạo

Quy định về giải quyết tranh chấp và một số vấn đề khác liên quan đến con dấu của doanh nghiệp

Các tranh chấp liên quan đến con dấu doanh nghiệp được quy định tại Điều 6 Nghị định 99/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2016 của Chính phủ Về quản lý và sử dụng con dấu bao gồm:

  • Làm giả con dấu, sử dụng con dấu giả. Đây là một trong những tội phạm hình sự được quy định tại Điều 341 BLHS 2015 theo đó đây là hành vi của người không có thẩm quyền cấp con dấu nhưng đã tạo ra con dấu đó bằng những phương pháp nhất định để coi nó như thật. Việc làm giả này có thể là giả toàn bộ hoặc chỉ một phần nội dung của con dấu doanh nghiệp. Sử dụng con dấu giả là người phạm tội không có hành vi “làm” giả con dấu doanh nghiệp nhưng đã có hành vi “sử dụng” chúng để lừa dối người khác. “Lừa dối” ở đây có nghĩa là người phạm tội sử dụng con dấu doanh nghiệp đó trong giao dịch với các chủ thể khác khiến cho các đối tác giao dịch tin đó là con dấu doanh nghiệp thật.
  • Mua bán con dấu, tiêu hủy trái phép con dấu. Đây cũng là một trong những tội phạm hình sự quy định tại Điều 342 BLHS 2015. Theo đó Mua bán con dấu doanh nghiệp là hành vi trao đổi bằng tiền mặt hoặc hiện vật để lấy con dấu, tài liệu. Chỉ cần có hành vi “mua” hoặc “bán” là thỏa mãn dấu hiệu của hành vi này. Tội phạm hoàn thành kể từ khi hai bên mua bán đã thỏa thuận xong việc mua bán, bất kể con dấu đã được trao cho bên mua chưa. Tiêu huỷ con dấu\ là làm mất hoàn toàn hoặc một phần giá trị sử dụng của con dấu mà việc phục hồi rất khó hoặc không được.
  • Sử dụng con dấu hết giá trị sử dụng. Con dấu hết giá trị sử dụng có thể được hiểu là con dấu đã hết thời hạn sử dụng hoặc con dấu đã bị thu hồi hoặc bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục hủy giá trị sử dụng. Con dấu hết giá trị sử dụng đồng nghĩa những văn bản có đóng loại dấu này không có giá trị pháp lý cần thiết nếu pháp luật hoặc các bên thỏa thuận việc sử dụng con dấu doanh nghiệp là điều kiện phát sinh hiệu lực của văn bản có dấu.
  • Cố ý làm biến dạng, sửa chữa nội dung mẫu con dấu đã đăng ký. Mẫu dấu bị biến dạng hoặc bị sửa chữa có thể hiểu là nội dung thể hiện trên mặt dấu bị thay đổi một phần hoặc toàn bộ so với mẫu ban đầu đã đăng ký. Và việc làm biến dạng hoặc sửa chữa mẫu dấu ban đầu là hành vi cố ý và vì mục đích không chính đáng có nguy cơ xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp hoặc của chủ thể khác.
  • Không giao nộp con dấu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan đăng ký mẫu con dấu. Các trường hợp doanh nghiệp phải giao nộp lại con dấu theo quyết định của cơ quan thẩm quyền được quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định 99/2016/NĐ-CP. Trong trường hợp doanh nghiệp không giao nộp lại con dấu nhưng không đồng nghĩa với việc con dấu đó còn giá trị pháp lý hay giá trị sử dụng trên thực tế. Và việc doanh nghiệp tiếp tục sử dụng con dấu có yêu cầu thu hồi chính là hành vi vi phạm quyền quản lý của nhà nước về con dấu.
  • Mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp con dấu; sử dụng con dấu của Cơ quan, tổ chức khác để hoạt động. Con dấu là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chủ thể đã đăng ký mẫu dấu và việc sử dụng con dấu phải tuân thủ những quy định pháp lý nhất định nhằm đảm báo giá trị pháp lý của con dấu. Việc chủ thể khác mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp con dấu; sử dụng con dấu của doanh nghiệp hoặc ngược lại để hoạt động là vi phạm quyền sở hữu của doanh nghiệp sở hữu con dấu bị mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố, thế chấp con dấu. Quy định này cho thấy việc sử dụng con dấu luôn phải được thực hiện bởi chủ thể sở hữu con dấu cũng như nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế chịu trách nhiệm trong sử dụng con dấu của doanh nghiệp.
  • Chiếm giữ trái phép, chiếm đoạt con dấu. Đây chính là hành vi tước đoạt quyền sở hữu của chủ thể sở hữu con dấu một cách cố ý. Tuy nhiên, cần xác định đúng mục đích chiếm đoạt tài sản là con dấu doanh nghiệp: Đây là yếu tố cấu thành bắt buộc của hành vi này. Chiếm đoạt hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tất cả các quan điểm đều có nội dung cho rằng “Chiếm đoạt là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp có thể là là dịch chuyển về mặt pháp lý, có thể là về mặt thực tế, trong đó người chiếm đoạt đã sử dụng biện pháp, phương thức không được pháp luật cho phép tước bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đang thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý hợp pháp của người đó”. Theo như khái niệm trên thì mọi hành vi dịch chuyển tài sản bất hợp pháp đều phạm tội. Tuy nhiên, thực tế cần phải xem xét nhiều yếu tố khác có liên quan. Trong trường hợp người thực hiện hành vi đó không có mục đích chiếm đoạt thì người đó không phạm tội. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án trộm cắp tài sản việc xác định mục đích chiếm đoạt là vô cùng quan trọng nhằm xác định đúng hành vi phạm tội Chiếm giữ trái phép, chiếm đoạt con dấu.
  • Sử dụng con dấu chưa đăng ký mẫu con dấu. Đăng ký mẫu dấu là trách nhiệm của doanh nghiệp phải thực hiện nhằm bảo đảm quyền quản lý về việc sử dụng con dấu doanh nghiệp của nhà nước. Bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đóng vai trò quan trọng đảm bảo giá trị pháp lý của văn bản doanh nghiệp chứa đựng con dấu trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc mâu thuẫn có liên quan. Việc sử dụng con dấu chưa đăng ký mẫu dấu không những là hành vi xâm phạm quyền quản lý về sử dụng mẫu dấu của nhà nước mà còn khiến cho giá trị pháp lý của văn bản chứa đựng mẫu dấu không phát huy hiệu lực toàn vẹn.
  • Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu. Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu chính là văn bản xác nhận doanh nghiệp đã thực hiện nghĩa vụ đăng ký mẫu dấu và mẫu dấu của doanh nghiệp nằm dưới sự quản lý hợp pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu đồng nghĩa với việc mẫu dấu đó vẫn chưa được đăng ký hợp pháp từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lời của doanh nghiệp sở hữu dấu. Bởi khi con dấu trên thực tế được sử dụng trong các văn bản của doanh nghiệp không phải là con dấu được đăng ký do chứa đựng nội dung sai lệch khi đăng ký thì giá trị pháp lý của con dấu trên thực tế sẽ không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo đảm.
  • Đóng dấu lên chữ ký của người không có thẩm quyền. Chữ ký là một trong các thành phần không thể thiếu nhằm giúp cho văn bản doanh nghiệp phát huy giá trị pháp lý. Bởi suy cho cùng văn bản nào được xác lập dưới bất kỳ dạng nào đi chăng nữa cũng là hình thức thể hiện ý chí của con người và chữ ký chính là dấu hiệu cuối cùng của thủ tục xác nhận văn bản đó được hình thành một cách hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ những quy trình nhất định từ nội dung cho đến hình thức thể hiện. Tuy nhiên, không phải bất kỳ chữ ký từ chủ thể nào cũng có thể đảm nhiệm vai trò tối quan trọng này. Ngoài ra đối với mỗi loại văn bản liên quan đến những lĩnh vực khác nhau cần phải được xác nhận từ những chủ thể có hiểu biết chuyên ngành nhất định nhằm giúp giá trị pháp lý cũng như giá trị sử dụng của văn bản trở nên chặt chẽ, chính xác và đạt được mục đích nhất định mà văn bản đề ra. Đóng dấu được coi là khâu cuối cùng hoạt động xác nhận giá trị pháp lý của văn bản đã được ký duyệt tuy nhiên đóng dấu lên chữ ký của người không có thẩm quyền đồng nghĩa với hai trường hợp: thứ nhất đó là người đóng dấu cố ý thực hiện hoạt động này dù biết rõ người ký không có thẩm quyền ký; thứ hai, người đóng dấu không biết người ký có thẩm quyền ký vào văn bản. Trong trường hợp thứ nhất nếu đã biết rõ người không có thẩm quyền ký đã ký vào văn bản mà người đóng dấu vẫn thực hiện hành vi này điều đó cho thấy mục đích không chính đáng của người đóng dấu. Nhưng dù có rơi vào trường hợp nào thì khi phát sinh tranh chấp hoặc được phát hiện kịp thời, văn bản được đóng dấu doanh nghiệp nhưng do người không có thẩm quyền ký cũng không có giá trị pháp lý.
  • Không chấp hành việc kiểm tra con dấu, không xuất trình con dấu khi có yêu cầu kiểm tra của cơ quan đăng ký mẫu con dấu.
  • Lợi dụng nhiệm vụ được giao trong quá trình giải quyết thủ tục về con dấu để sách nhiễu, gây phiền hà, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. (Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp )

Thông thường trên thực tế tranh chấp con dấu phản ánh một dạng tranh chấp điển hình trong nội bộ doanh nghiệp, giữa ban lãnh đạo cũ và mới, ban lãnh đạo (HĐQT/Hội đồng thành viên) và người đại diện theo pháp luật (chủ tịch HĐQT/giám đốc), hoặc giữa các nhóm cổ đông/thành viên nắm quyền chi phối và kiểm soát DN khi các nhóm này có sự xung đột lợi ích trong việc giành quyền kiểm soát công ty. Trong nhiều trường hợp, tranh chấp càng trở nên nóng bỏng, do cách thức xử lý vụ việc của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan (UBND, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tòa án).

Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp 
Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp 

Trên đây là mẫu cơ sở lý luận đề tài về Cơ sở lý luận về con dấu của doanh nghiệp được chia sẻ miễn phí, các bạn có thể bấm vào nút tải dưới đây. Tài liệu trên đây có thể chưa đáp ứng được nhu cầu các bạn sinh viên, nếu các bạn có nhu cầu viết bài theo đề tài của mình có thể liên hệ dịch vụ báo cáo thực tập để được hỗ trợ qua SDT/Zalo :0973287149

TẢI FILE MẪU MIỄN PHÍ

Contact Me on Zalo