Download miễn phí mẫu cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn dành cho các bạn sinh viên đang làm báo cáo tốt nghiệp, mẫu cơ sở lý luận về Cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được kham khảo từ báo cáo tốt nghiệp đạt điểm cao hy vọng giúp cho các bạn khóa sau có thêm tài liệu hay để làm bài báo cáo thực tập của mình
Các bạn sinh viên đang gặp khó khăn trong quá trình làm báo cáo thực tập, chuyên đề tốt nghiệp , nếu cần sự hỗ trợ dịch vụ viết bài trọn gói , chất lượng các bạn liên hệ qua SDT/Zalo :0973287149
2.1. Khái quát về chia tài sản chung của vợ chồng
2.1.1 Tài sản chung của vợ chồng
2.1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình.Sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này cũng vì thế mà hình thành. Do tài sản không chỉ gắn liền với những lợi ích thiết thực của hai bên mà còn liên quan đến người thứ ba, đặc biệt là khi vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh thương mại nên vấn đề này lúc nào cũng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt là sau khi vợ chồng ly hôn. Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản. Sự phức tạp trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng cùng những hạn chế trong việc qui định về chế độ tài sản vợ chồng trong luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình nước ta ngày càng trở nên bất cập. Kế thừa BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 sử dụng định nghĩa liệt kê để xác định tài sản. Tại Điều 105 có quy định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”. Ở đây, BLDS năm 2015 đã có sự liệt kê cụ thể và rõ ràng hơn về khái niệm tài sản. Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền tài sản trong Luật Dân sự là nguồn gốc, cơ sở để luật chuyên ngành xây dựng khái niệm tài sản cụ thể theo tính chất của ngành luật mình.
Trước khi kết hôn, tài sản của vợ, chồng là tài sản riêng của từng cá nhân. Kể từ khi xác lập quan hệ hôn nhân vấn đề tài sản giữa vợ chồng mới bị ràng buộc: xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung này.
Tài sản của vợ chồng gồm tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ chồng. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập vấn đề tài sản chung của vợ chồng.
Theo Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Như vậy có thể hiểu: Tài sản chung của vợ chồng là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó.
Xem Thêm ==> Viết chuyên đề thực tập giá rẻ
2.1.1.2. Xác định tài sản chung của vợ chồng
Pháp luật Việt Nam trước đây chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định. Chế độ tài sản pháp định là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật đã dự liệu từ trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh toán liên quan đến các khoản vay nợ chung hay riêng của vợ, chồng [1] Pháp luật của nhiều nước trên thế giới thừa nhận quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản hay còn gọi là khế ước hôn nhân hoặc hôn ước. Bởi vậy nếu có thỏa thuận tài sản – hôn ước thì việc xác định tài sản chung của vợ chồng phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận của hôn ước.
Trên cơ sở các điều kiện phát triển về kinh tế – xã hội, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong đó có quyền tự do định đoạt về tài sản mà Hiến pháp 2013 đã ghi nhận cũng như quá trình hội nhập quốc tế, nhu cầu thực tế của xã hội Việt Nam, Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời đã ghi nhận bổ sung chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Có thể nói đây là bước phát triển mới của Luật HN&GĐ 2014 về chế định tài sản của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng. Theo đó, nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì việc xác định tài sản chung của vợ chồng; tài sản riêng của vợ, chồng phải dựa vào nội dung cụ thể của thỏa thuận tài sản vợ chồng đã được lập. Trường hợp, thỏa thuận tài sản vợ chồng không quy định thì căn cứ vào các quy định của pháp luật tương ứng để xác định[2].
2.1.2. Chia tài sản chung của vợ chồng
2.1.2.1. Bản chất của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng
Ngày nay, do xã hội phát triển, tính gắn kết của gia đình có nhiều biến đổi. Việc chia tài sản chung của vợ chồng đang trở thành một nhu cầu tất yếu. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, một mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội. Mặt khác giúp cho các Toà án giải quyết nhanh chóng các vụ việc.
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2014 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ trước đó, tiếp tục quy định về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Trong nhiều năm qua, chế định này đã từng bước đi vào cuộc sống phát huy được hiệu quả điều chỉnh, góp phần xây dựng, củng cố chế độ HN&GĐ Việt Nam.
Bản chất của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng chính là việc chấm dứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc một phần khối tài sản chung của vợ chồng. Sau khi phân chia, tài sản chung sẽ được chia thành từng phần tài sản xác định và xác lập quyền sở hữu riêng của của vợ, chồng đối với phần tài sản được chia.
2.1.2.2. Đặc điểm của chia tài sản chung của vợ chồng
Một là, phân chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên một cơ chế phân chia đặc biệt. Về nguyên tắc chung, nếu vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, không có thỏa thuận khác, việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trên nguyên tắc chia đôi; việc tính toán công sức đóng góp đối với tài sản chung chỉ mang tính ước lượng tương đối mà không căn cứ trên cơ sở số học một cách tuyệt đối như các trường hợp sở hữu chung theo phần.
Theo từ điển luật học “chia tài sản chung của vợ chồng là phân chia tài sản chung của vợ chồng thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng”[3]
Hai là, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng chỉ được thực hiện trong những trường hợp pháp luật quy định. Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với tài sản chung bắt đầu từ khi quan hệ hôn nhân được xác lập và được thực hiện trong suốt thời kỳ hôn nhân. Tùy thuộc vào việc lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp định hoặc chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận – hôn ước mà xác định căn cứ pháp lý điều chỉnh việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Hiện nay, việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện khi thuộc một trong ba trường hợp sau: trong thời kỳ hôn nhân; khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, bị Tòa án tuyên bố là đã chết và trường hợp khi vợ, chồng ly hôn. Trước khi ban hành Luật HN&GĐ năm 2014, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ được thực hiện để kinh doanh riêng hoặc có lý do chính đáng. Luật HN&GĐ năm 2014 không còn giới hạn các trường hợp được phép chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ quy định các trường hợp thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu. Quy định này góp phần đảm bảo quyền tự do định đoạt đối với tài sản của vợ, chồng đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích của người thứ ba.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa: Chia tài sản chung của vợ chồng là việc xác định phần quyền sở hữu của vợ, chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng được chia. Sau khi phân chia tài sản chung, quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với khối tài sản chung chấm dứt; vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với phần tài sản đã được chia.
2.1.2.3. Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
Trong quan hệ pháp luật HN&GĐ, quan hệ thân nhân chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, chi phối đời sống gia đình. Trong khi đó, vấn đề được quan tâm nhất, gây nhiều tranh chấp nhất khi gia đình rạn nứt lại là tài sản. Chia tài sản chung của vợ chồng là việc dùng khối tài sản chung của vợ chồng phân chia cho vợ, chồng mỗi người được nhận một phần tài sản trong khối tài sản chung. Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ trường hợp nào, tài sản chung cũng có thể phân chia được. Theo quy định của pháp luật, tài sản chung của vợ chồng được chia trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:
Về nguyên tắc, trong hôn nhân, tài sản riêng của ai vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó. Vì lý do nhất định như vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác, họ có thể thỏa thuận chia tài sản chung. Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
“Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.
Trước đây, tại khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000, không bắt buộc văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được công chứng. Do vậy, đây là điểm tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có quyền thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản, văn bản thỏa thuận phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Nếu vợ chồng không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Vợ chồng thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân là nhằm giúp các bên thể hiện ý chí, nguyện vọng trong vấn đề chia tài sản, nhưng thỏa thuận đó phải nằm trong giới hạn pháp luật cho phép.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định. Việc phân chia tài sản này chỉ có giá trị pháp lý đối với phần tài sản phân chia. Phần tài sản chung của vợ chồng chưa chia vẫn áp dụng các quy định của pháp luật điều chỉnh – chế độ tài sản pháp định nếu các bên không lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.[4]
Tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung của vợ chồng là tài sản riêng của vợ, chồng trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại chưa chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Quy định này kế thừa quy định từ Luật HN&GĐ năm 2000. Ngoài ra, trong luật HN&GĐ năm 2014 quy định rõ về việc vợ chồng có thể thỏa thuận chia toàn bộ tài sản chung hoặc chia một phần tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, đối với trường hợp vợ chồng chỉ yêu cầu, thỏa thuận chia một phần tài sản chung thì tài sản chưa chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
Việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba[5]. Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014 góp phần đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của bên thứ ba, tránh việc vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba. Trong trường hợp, vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm trốn tránh nghĩa vụ thì thỏa thuận này bị vô hiệu.
Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân việc chia tài sản chung của vợ chồng được pháp luật cho phép, các bên vợ chồng được quyền tự do quyết định đối với tài sản riêng của mình.
Thứ hai, chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng chết:
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về nguyên tắc chia tài sản trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết cụ thể tại Điều 66. Theo đó, khi có yêu cầu chia tài sản thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc sẽ được chia đôi. Nhưng nếu trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có thỏa thuận khác về chế độ tài sản thì sẽ thực hiện theo thỏa thuận đó. Trong trường hợp, việc phân chia di sản thừa kế ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của vợ hoặc chồng và con cái trong trường hợp họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo cũng như phù hợp với đạo đức xã hội Việt Nam.
Sau khi chia tài sản, phần tài sản của vợ, chồng đã chết trở thành di sản của người đó và được chia theo quy định của pháp luật thừa kế. Trong trường hợp, người vợ hoặc chồng trước đó bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là đã chết nay có quyết định hủy tuyên bố một người là đã chết thì quan hệ nhân thân, tài sản được giải quyết theo quy định tại Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2014.
Thứ ba, chia tài sản vợ chồng khi ly hôn:
Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Khi đời sống hôn nhân chấm dứt, vấn đề tài sản luôn được các cặp vợ chồng quan tâm hàng đầu. Cụ thể như việc xác định nguồn gốc hình thành tài sản, việc phân định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng để thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia. Mặc dù pháp luật đã có những quy định điều chỉnh vấn đề giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng thực tiễn giải quyết lại rất phức tạp, tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật.
Như vậy, chia tài sản vợ chồng trong ba trường hợp trên thì tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án giải quyết khác nhau cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế đảm bảo quyền lợi của các bên. Mỗi một trường hợp chia tài sản đều mang một ý nghĩa riêng như chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên vợ, chồng trong kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, hoặc có lý do chính đáng khác cần phân chia tài sản chung; chia tài sản khi một trong hai bên chết nhằm đảm bảo quyền lợi của người vợ hoặc người chồng còn sống, quyền lợi của người thừa kế, đồng thời đảm bảo tài sản được sử dụng có hiệu quả; còn chia tài sản khi vợ chồng ly hôn nhằm tạo điều kiện cho các bên tạo lập cuộc sống mới sau khi ly hôn, đảm bảo công bằng giữa vợ và chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, mặc dù thời kỳ hôn nhân chấm dứt, nhưng vợ chồng lại không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản của họ, đây là quyền tự định đoạt của chủ sở hữu nên Tòa án tôn trọng quyết định của họ. Sau đó, có thể vì một số lý do, hai bên phát sinh tranh chấp. Mặc dù lúc này quan hệ giữa họ là quan hệ giữa các đồng sở hữu tài sản với nhau, nhưng nguồn gốc tài sản chung vẫn từ quan hệ vợ chồng trước đây, nên Tòa án sẽ căn cứ vào cơ chế chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tương ứng với các quy định tại Luật HN&GĐ hiện hành để giải quyết.
Xem Thêm ==> 999+ chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
2.2. Nội dung pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
2.2.1. Cơ sở pháp lý
Nếu như kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân của vợ chồng thì ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn hoặc xử cho vợ, chồng được ly hôn với nhau theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả vợ và chồng; do cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng yêu cầu [6]. Khi vợ chồng ly hôn thì việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là một trong ba quan hệ cần giải quyết: quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ sở hữu tài sản chung của vợ chồng. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề phức tạp đặc biệt trong trường hợp một bên vợ, chồng cố tình gây khó khăn, không muốn ly hôn để ràng buộc chồng, vợ. Trong trường hợp này thường có những tranh chấp giữa vợ chồng, cố tình kê khai công nợ chung, dấu diếm tài sản chung…gây khó khăn trong quá trình tố tụng và thực hiện việc xét xử của Tòa án.
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Điều 59 và phân chia tài sản trong một số trường hợp cụ thể từ Điều 60 đến Điều 64.
Một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 là thừa nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Vì vậy, nếu vợ chồng có thỏa thuận tài sản trong đó có thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng phân chia theo thỏa thuận tài sản đó; trường hợp thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại Điều 59 đến Điều 64 luật này để giải quyết.
2.2.2. Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Ly hôn sẽ làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng. Việc chia tài sản chung là điều kiện cần thiết đảm bảo điều kiện sống của mỗi bên sau khi ly hôn. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân, nhưng nó không thể thiếu khi hôn nhân thực sự tan vỡ, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Thời điểm chấm dứt hôn nhân chứa đựng ý nghĩa pháp luật quan trọng vì thông qua thời điểm chấm dứt hôn nhân giúp xác định thời điểm chấm dứt các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, giải quyết con chung giữa vợ chồng. Về nguyên tắc, thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân cũng là thời điểm chấm dứt quan hệ tài sản vợ chồng. Tòa án giải quyết ly hôn khi giữa hai bên đã tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chính vì vậy, trong đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, tức là giữa các bên vợ chồng tồn tại quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận.
Để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, pháp luật HN&GĐ đã quy định về phương thức phân chia cũng như các nguyên tắc của việc phân chia này.
Thứ nhất, phương thức tự thỏa thuận:
“Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”[7].
Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung chế độ tài sản theo thỏa thuận. Theo quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014 thì trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn. Tại Điều 48 Luật HN&GĐ năm 2014, nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm: “Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng: quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan, tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản…”. Thỏa thuận này vẫn có thể được sửa đổi, bổ sung sau khi kết hôn hoặc bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 49 và 50 của Luật này. Quy định này góp phần giảm thiểu sự tranh chấp tài sản sau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình trạng hiện nay.
“Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận…
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó;…”.
Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đề cao ý chí của các bên, quyền tự định đoạt của vợ chồng. Tuy nhiên, về nguyên tắc việc tự thỏa thuận này không được trái với những nguyên tắc mà pháp luật đã quy định để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, nhất là của phụ nữ và con cũng như tránh sự lợi dụng những quy định này nhằm mục đích tư lợi, không lành mạnh của vợ chồng. Trường hợp các bên thỏa thuận được về chia tài sản cùng với việc tự nguyện ly hôn và việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của vợ và con thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014. Trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, phương thức yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn:
Nhà nước và pháp luật luôn luôn khuyến khích và tôn trọng sự thỏa thuận của giữa vợ chồng khi chia tài sản chung. Tuy vậy, không phải lúc nào vợ chồng cũng thể thỏa thuận được vấn đề này. Nhất là khi cuộc sống hôn nhân tan vỡ, tình yêu không còn, đôi khi lại ẩn chứa nhiều mâu thuẫn, xung đột gay gắt khiến cho họ tranh chấp quyết liệt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014: “…Nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại khoản 2,3,4,và 5 Điều này và tại các Điều 60,61,62,63, và 64 của Luật này.
…nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2,3,4 và 5 Điều này và tại các Điều 60,61,62,63 và 64 của Luật này để giải quyết”.
Phương thức này nhờ Tòa giải quyết khi các bên lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng hoặc vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo luật quy định nhưng không thỏa thuận được. Khi giải quyết, Tòa án cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và các trường hợp cụ thể quy định trong Luật HN&GĐ.
2.2.3. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản chung của vợ chồng theo thỏa thuận (có thỏa thuận tài sản) thì khi ly hôn việc phân chia tài sản theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng thì áp dụng các quy định tương ứng của luật định để phân chia [42, Điều 59]. Trường hợp, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản sẽ ưu tiên, căn cứ trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng và cho phép vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật ghi nhận việc chia tài sản chung như thế nào trước hết phụ thuộc vào ý chí của các bên. Pháp luật cho phép các bên được tự do ý chí, nhưng việc thỏa thuận phải được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật. Thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn cũng chính là một giao dịch dân sự, vì vậy nó phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật nếu có quy định[8]. Ngoài ra, do tính chất đặc trưng của quan hệ hôn nhân và gia đình nên nó có một số đặc điểm riêng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động không có tài sản riêng để nuôi sống mình.
Việc thừa nhận chế định tài sản theo thỏa thuận cũng là một sự đổi mới thể hiện quan điểm pháp lý tôn trọng sự tự do ý chí của các bên trong quan hệ dân sự. Tại thời điểm kết hôn, khi hai vợ chồng còn thống nhất ý chí, việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, thỏa thuận việc phân chia tài sản chung, riêng ngay từ đầu tránh tranh chấp không đáng có khi hai vợ chồng mâu thuẫn đặc biệt khi ly hôn thường thì vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng thường gay gắt nên rất khó để đưa ra tiếng nói chung đặc biệt đối với việc phân chia tài sản.
Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định hình thức ghi nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Tuy nhiên, khi ly hôn, nếu vợ chồng thỏa thuận được với nhau mọi vấn đề trong đó có vấn đề phân chia tài sản chung của vợ chồng thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự[9], Mặc dù luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cụ thể hình thức thể hiện việc thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, nhưng qua các quy định liên quan đến thủ tục ly hôn ta có thể thấy thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng theo chế định luật định được thể hiện trong quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án.
2.2.4. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Nếu như kết hôn là một trong những sự kiện pháp lý xác lập chế độ tài sản chung của vợ chồng thì ly hôn là một sự kiện pháp lý chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng. Vợ chồng có thể tự thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng thông qua lập “hôn ước” nếu lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; thỏa thuận tại Tòa án khi ly hôn. Trường hợp vợ chồng không thực hiện việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thì chế độ tài sản chung của vợ chồng cũng chấm dứt – chấm dứt sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia thay vào đó là chế độ sở hữu chung theo phần. Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng, tài sản chia cho bên nào sẽ thuộc sở hữu riêng của bên đó. Từ đó, hoa lợi lợi tức thu được từ phần tài sản riêng của mỗi người sẽ thuộc tài sản riêng của người đó. Tuy nhiên luật hôn nhân gia đình năm 2014 vẫn chưa quy định các tính hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn nhưng chưa chia thì xác định quyền sở hữu của vợ, chồng đối với phần tài sản này như thế nào. Tuy nhiên, có thể áp dụng nguyên tắc, xác định tài sản riêng của mỗi người kể từ thời điểm ly hôn, quan hệ sở hữu chung hợp nhất chấm dứt. Nếu tài sản chung của vợ chồng chưa chia sẽ trở thành tài sản chung theo phân của họ. Phần hoa lợi, lợi tức phát sinh trên khối tài sản chung này sẽ được phân chia tương ứng với phần tài sản mà vợ, chồng nhận được khi chia khối tài sản chung này.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn không làm chất dứt quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác[10]. Quy định này, tương tự quy định về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đây là một điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 thể hiện quan điểm đổi mới của nhà làm luật thống nhất với luật chung – Bộ luật Dân sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thứ ba.
Xem Thêm ==> Nguyên Tắc Và Hậu Qủa Pháp Lý Trong Việc Chia Tài Sản Chung Của Vợ Chồng Khi Ly Hôn
[1] Nguyễn Văn Cừ – Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia
[2] điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 48 và Điều 49, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
[3] Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân
[4] Điều 40 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014
[5] Khoản 2, Điều 40, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
[6] Điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
[7] Khoản 1 Điều 59. Khoản 1 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014
[8] Điều 122; Điều 117, Bộ luật dân sự năm 2005
[9] Điều 55, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
[10] khoản 1 Điều 60, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Trên đây là mẫu cơ sở lý luận về Cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn được chia sẻ miễn phí, các bạn có thể bấm vào nút tải dưới đây. Tài liệu trên đây có thể chưa đáp ứng được nhu cầu các bạn sinh viên, nếu các bạn có nhu cầu viết bài theo đề tài của mình có thể liên hệ dịch vụ báo cáo thực tập để được hỗ trợ qua SDT/Zalo :0973287149